fbpx

TIN TỨC

Chuyên mục

TIN XEM NHIỀU

18Nov

Tương lai của ngành Logistics trong 5-10 năm tới sẽ ra sao ?: nghiên cứu toàn diện của PWC

Trong chuỗi các bài “PwC’s Future Insight Series” được công bố từ PwC, Smartlog đã...

06Jan

Điều gì xảy ra khi chuỗi cung ứng gặp blockchain?

Cho đến nay, Smartlog đã cung cấp nhiều bài viết nói về blockchain và tiềm...

08Sep

Công nghệ thực tế ảo tăng cường (AR) trong logistics (Phần 1)

Làn sóng thay đổi lớn tiếp theo của ngành công nghiệp logistics có lẽ sẽ...

07May

ANC: “THAY ĐỔI ĐỂ TỒN TẠI, THAY ĐỔI ĐỂ PHÁT TRIỂN.”

Được thành lập từ năm 1996, Công ty TNHH ANC là một trong những công...

18Apr

IDOCEAN GIÚP NGƯỜI TIÊU DÙNG KHÔNG BAO GIỜ THIẾU NHỮNG MÓN NGON VỚI STM

Nhắc đến Idocean hẳn nhiều người vẫn còn lạ lẫm với tên thương hiệu này,...

Một thế giới hoàn toàn mới của thời đại tự động hoá trong nhà kho

Một “đội ngũ” các robot đang đổ bộ vào nhà máy Horicon của John Deere, Wisconsin.

Trong năm nay, một đội ngũ thiết bị tự lái (automated guided vehicles – AGVs) thế hệ mới đang được lên kế hoạch để bắt đầu tham gia vào dây chuyền lắp ráp của công ty này, vận chuyển các bộ phận và nguyên vật liệu khắp nhà máy một cách hiệu quả, tự động.

Nhìn bề ngoài, tin tức này không có gì là quá thú vị. AGVs không có gì mới với thị trường; chúng đã xuất hiện tại các nhà máy trong nhiều thập kỷ qua ở dạng này hay dạng khác.

Nhưng không có loại nào trong số chúng giống với như thế này.

Đội xe của công ty John Deere sẽ đánh dấu việc triển khai mới nhất của OTTO 1500 – một loại phương tiện robot hoàn toàn tự lái được xây dựng bởi Clearpath Robotics, một công ty mới trong ngành có trụ sở đặt tại Kitchener, Ontario, Canada.

Những cỗ máy này có khả năng vận chuyển lên đến khoảng 1360kg hàng hóa xuyên qua môi trường nhà máy và nhà kho tắc nghẽn mà không cần tài xế, giám sát, hoặc cơ sở hạ tầng hướng dẫn.

Chi tiết cuối cùng chính là điều làm cho công nghệ này trở nên thú vị.

AGVs truyền thống đòi hỏi rất nhiều công việc và rất nhiều không gian trống để chạy một cách an toàn và hiệu quả. Trong quá khứ, điều này có nghĩa là phải ràng buộc chúng vào dải từ tính hoặc lưới mã vạch dọc ngang làn đường vận chuyển không có con người.

Nhưng bây giờ điều này không cần thiết nữa.

Theo Matt Rendall – đồng sáng lập và Giám đốc điều hành Clearpath, OTTO đã áp dụng thiết bị kết nối (backbone) mang tính cảm biến, khả năng tính toán cao giống như cái mà Google sử dụng trong xe tự lái của họ để vận chuyển nguồn cung một cách an toàn và hiệu quả dọc theo cùng những tuyến đường nhà máy và kho hàng được qua lại nhiều bởi người lao động và trang thiết bị.

“Sự khác biệt chính giữa OTTO và các thế hệ trước của loại công nghệ này chính là OTTO về cơ bản không đi theo lối mòn” Rendall giải thích.

Ông so sánh sự khác biệt này như sự khác biệt giữa các hệ thống tàu điện ngầm và xe taxi trong một thành phố bận rộn. Ông nói: “Có lúc và có nơi cần hệ thống tàu điện ngầm. Nhưng khi tốc độ và hiệu quả trở nên cần thiết, đó cũng lúc và nơi cần đến xe taxi.”

Tuy nhiên, việc tạo ra một robot đủ thông minh để đi qua một nhà máy bận rộn một cách an toàn là quá xa với so với việc tin tưởng một người lái xe có kinh nghiệm để giúp bạn đến được văn phòng đúng giờ. Để thực hiện bước nhảy đó, Clearpath phải cài đặt một kho đầy đủ các công cụ công nghệ hiện nay.

Một hệ thống kết nối (backbone) công nghệ cao

Câu chuyện tầm cỡ nhất trong thị trường AGV những năm gần đây đó là việc Amazon mua Hệ thống Kiva vào năm 2012.

Vụ buôn bán trị giá 775 nghìn đô la Mỹ này khiến Amazon độc quyền truy cập dòng robot kho của Kiva –vào thời điểm được coi là một trong những thiết bị tiên tiến nhất trên thị trường – nhà bán lẻ trực tuyến này cuối cùng đã khai thác 15.000 robot để sắp xếp, thay đổi, và định hình lại quy trình lấy đơn hàng phức tạp và giao hàng của nó theo nhiều cách.

Theo Rendall, hệ thống cực kỳ hiệu quả của Kiva đi trước hàng năm trời so với những cái cùng thời của nó khi mà nó được hình thành và xây dựng cách đây 13 năm. Tuy nhiên, ông lưu ý, các công cụ công nghệ thuộc quyền định đoạt của các nhà sản xuất robot hiện đại đã thay đổi một cách kinh ngạc kể từ lúc đó.

Ông giải thích: “Những phương tiện như thế này đòi hỏi mã vạch 2-D trên sàn cách nhau một khoảng xấp xỉ 92m (3-feet). Vì vậy, nếu bạn muốn cho phép khu vực xử lý đơn hàng 9290m2 (100.000 sq.ft.), bạn cũng sẽ cần phải sử dụng 9290m2 (100.000 sq.ft.) mã vạch.”

Ông cho biết thêm rằng trên hết, những hệ thống này không an toàn khi cộng tác với con người. Xem xét tất cả, điều này có nghĩa là hệ thống đòi hỏi nhiều không gian không có người qua lại và thậm chí để bắt đầu đòi hỏi rất nhiều cơ sở hạ tầng.

Chỗ ưng ý nhất của thế hệ thiết bị này, Rendall nói, chính là những khu vực trống mới (greenfield space)  – các trang thiết bị và nhà kho hoàn toàn mới có thể được xây dựng tùy chỉnh với không gian và cơ sở hạ tầng mà bạn yêu cầu. Tuy nhiên, đó không phải là một sự xa xỉ mà hầu hết người dùng tiềm năng có thể đủ sức mua được. Thêm vào đó, tính năng này không còn cần thiết nữa.

Rendall lập luận: “Bối cảnh công nghệ đã thay đổi cơ bản trong 13 năm qua. Điện thoại thông minh, Internet, điện toán đám mây, Internet of Things (IoT) – đây là tất cả những “nhân tố tạo điều kiện” mà đã kết hợp một cách tuyệt vời với nhau để làm cho thiết bị tự lái (self-driving) trở nên khả dĩ trong sản xuất và kho bãi.”

Ông nói, sức mạnh tính toán đã tăng lên theo cấp số nhân trong thời gian này.

“Tất cả bắt đầu với tính toán. Chúng tôi có thể xây dựng một loại phương tiện có khả năng tính toán mạnh hơn rất nhiều so với bạn có thể làm được cách đây 10 năm, 13 năm trước, với cùng một mức giá. Điều đó có nghĩa là bạn có thể chạy các thuật toán chuyên sâu hơn trên robot.”

Và đó là chìa khóa cho bài toán “tự lái” (self-driving): robot đủ thông minh để tự nó đưa ra quyết định quan trọng. Nhờ sự hỗ trợ công nghệ cao được thừa kế từ Google và ngành công nghệ tiêu dùng, OTTO đã mang đầy đủ tất cả các chức năng như bộ cảm biến, máy tính và khả năng logic nội bộ để đánh dấu đường đi một cách hiệu quả, tránh chướng ngại vật, và tương tác an toàn với con người theo một cách mà không có thiết bị AGV nào khác từng làm tốt như thế.

Bằng việc không đi theo lối mòn và lưới mã vạch, nó có thể tiếp cận vào các khía cạnh hoàn toàn mới của quá trình sản xuất.

Rendall giải thích: “Khi bạn loại bỏ những mã vạch, bạn kích hoạt khả năng hoạt động ở gần con người. Bạn có thể đi sâu hơn vào trong nhà kho, hoặc sâu hơn vào nhà máy hơn bao giờ hết.”

—————————————

Robot trên khắp các trung tâm phân phối (DCs)

Clearpath không phải là công ty công nghệ cao duy nhất phát triển robot kho bãi. Dưới đây là những mô tả tóm tắt một số công ty khác và các ứng dụng phân phối của họ.

  • Fetch Robotics, một start-up ở Silicon Valley, đã giới thiệu một hệ thống robot bao gồm một cơ sở di động (mobile base), gọi là Freight và một công cụ thao tác di động tiên tiến (gọi là Fetch). Các robot được thiết kế để làm việc độc lập cùng với người lao động, thực hiện nhiệm vụ lặp đi lặp lại như giao hàng nhà kho và chọn và đóng gói. Fetch và Freight sử dụng song song được cho là có khả năng xử lý đa số các mặt hàng trong một nhà kho điển hình.
  • inVia Robotics, có trụ sở tại miền Nam California, đã cho ra mắt một hệ thống robot “goods-to-box” (robot có thể cho hàng trực tiếp vào thùng gửi hàng), được thiết kế để tích hợp liền mạch với các giải pháp WMS và ERP. Giải pháp này có sẵn thông qua một hệ thống robot như là một mô hình kinh doanh dịch vụ mà người dùng phải trả hàng tháng cho mỗi robot, điều mà cho phép họ mở rộng quy mô tăng hoặc giảm để đáp ứng tính mùa vụ hoặc dao động của nhu cầu. Con robot GrabIT của công ty có thể nâng vật năng lên đến 13.6kg (30lbs) và rộng lên đến 61 cm (24 inch), kick cỡ dao động từ một bộ bài đến 24 lon soda. Nó cũng có thể với lên tới 2.4m (8 feet) và làm việc trong 10 giờ với một lần sạc pin duy nhất. Khi một sản phẩm được chọn, một GrabIt có thể dỡ xuống một sản phẩm ra khỏi người bạn đồng hành với nó, TransIT, điều mà có thể giúp gom các đơn đặt hàng và gộp chúng vào chung một hộp chờ được vận chuyển.
  • Locus Robotics, một start-up có trụ sở tại Massachusetts, đã phát triển robot nhà kho mang tên LocusBots, và đã khai thác một hệ thống đa robot tại các cơ sở thực hiện đơn hàng của đối tác phát triển của nó, Quiet Logistics. Theo Clint Reiser, một nhà phân tích của ARC Advisory Group: “Các robot và các cộng sự tại kho làm việc với nhau theo một cách mà được thiết kế để giảm thiểu thời gian đi lại và tăng năng suất bằng cách sử dụng một quy trình làm việc mới. Các nhân viên quét các mặt hàng và đặt vào trong các túi được vận chuyển bằng robot. Các robot tự động điều hướng thông qua cơ sở hạ tầng nhà kho cùng với những con khác trong đội, được hướng dẫn bởi các máy chủ trung tâm.”
  • Vecna Technologies, có trụ sở tại Massachusetts, cung cấp một đội robot có thể tải từ 5kg đến 2000kg, tất cả đều có thể hoạt động độc lập. Công ty cung cấp một “bộ tự động” được thiết kế để tự động nhận yêu cầu công việc ưu tiên từ WMS hoặc MES của người dùng, cho phép các robot hoạt động như một nhóm cùng với các đối tác con người của chúng.

 

——–

Nguồn: Smartlog trích bài “A Brave New World of Warehouse Robots”, được đăng trên trang industryweek.com, tháng 01/2017, bởi Travis Hessman | Material Handling & Logistics

%d bloggers like this: