fbpx

TIN TỨC

Chuyên mục

TIN XEM NHIỀU

18Nov

Tương lai của ngành Logistics trong 5-10 năm tới sẽ ra sao ?: nghiên cứu toàn diện của PWC

Trong chuỗi các bài “PwC’s Future Insight Series” được công bố từ PwC, Smartlog đã...

06Jan

Điều gì xảy ra khi chuỗi cung ứng gặp blockchain?

Cho đến nay, Smartlog đã cung cấp nhiều bài viết nói về blockchain và tiềm...

08Sep

Công nghệ thực tế ảo tăng cường (AR) trong logistics (Phần 1)

Làn sóng thay đổi lớn tiếp theo của ngành công nghiệp logistics có lẽ sẽ...

07May

ANC: “THAY ĐỔI ĐỂ TỒN TẠI, THAY ĐỔI ĐỂ PHÁT TRIỂN.”

Được thành lập từ năm 1996, Công ty TNHH ANC là một trong những công...

18Apr

IDOCEAN GIÚP NGƯỜI TIÊU DÙNG KHÔNG BAO GIỜ THIẾU NHỮNG MÓN NGON VỚI STM

Nhắc đến Idocean hẳn nhiều người vẫn còn lạ lẫm với tên thương hiệu này,...

Mã vạch đã cách mạng hóa ngành sản xuất và bán lẻ như thế nào?

Mã vạch (hay barcode) là một trong trong những phát minh mang tính chất lịch sử của ngành logistics. Nó đã chuyển đổi hoàn toàn cách thức mà người ta vận hành ngành này.
Không có mã vạch, FedEx không thể đảm bảo giao hàng ngay qua đêm. Just-in-time logistics cho phép Walmart giữ được mức giá thấp sẽ không tồn tại, và cũng không thể tồn tại các đại siêu thị. Hệ thống sản xuất mang tính cách mạng kanban của Toyota phụ thuộc vào mã vạch. Từ thẻ lên máy bay đến bệnh viện, cho thuê xe hơi đến thải chất hạt nhân, mã vạch đã trở thành chất bôi trơn cho toàn bộ vận hành như một vài công nghệ khác trên thế giới đang hướng đến toàn cầu hóa.


Một sản phẩm được gắn mã vạch không còn đơn thuần chỉ là sản phẩm đó nữa, mà nó chứa đựng cả một lớp thông tin trong đó, giúp nhà quản lý chuỗi cung ứng có tầm nhìn chặt chẽ dòng chảy của sản phẩm.

How the barcode changed retailing and manufacturing_1
Năm 1948, N Joseph Woodland – một sinh viên cao học tại Học viện Drexel ở Philadelphia – đang cân nhắc một thách thức từ một nhà bán lẻ địa phương: làm thế nào để đẩy nhanh quá trình tính tiền trong các cửa hàng bằng cách tự động hóa các giao dịch.
Là một thanh niên thông minh, Woodland – được biết đến với tên Joseph – đã làm việc cho dự án Manhattan trong thời kỳ chiến tranh, và đã thiết kế một hệ thống tốt hơn để chơi nhạc trong thang máy. Nhưng ông ấy cũng khá bối rối với thách thứ này.
Một ngày đẹp trời ngồi trên bãi biển Miami trong khi thăm ông bà của mình, ngón tay của ông nhàn rỗi chải qua cát, một ý nghĩ đã nảy ra trong ông. Giống như mã mọt (Morse) sử dụng dấu chấm và dấu gạch ngang để truyền tải thông điệp, ông ấy nghĩ có thể sử dụng các đường kẻ mỏng và các đường kẻ dày để mã hóa thông tin.
Một “con mắt có hình như con ngựa vằn” (lằn sọc đen trắng) có thể mô tả một sản phẩm và giá cả của nó trong một mã mà một loại máy móc có thể đọc được.
Ý tưởng này là khả thi, nhưng với công nghệ hiện tại, nó thực sự rất tốn kém. Tuy nhiên khi các máy tính tiên tiến và laser được phát minh ra, nó đã trở nên thực tế hơn.
Hệ thống quét sọc được khám phá lại một cách độc lập và tinh chỉnh nhiều lần trong những năm qua. Vào những năm 1950, một kỹ sư, David Collins, đã đặt những đường kẻ mỏng và dày trên các toa xe lửa để chúng có thể được đọc một cách tự động bởi một máy quét bên cạnh.
Vào đầu những năm 1970, kỹ sư của IBM, George Laurer, đã tìm ra rằng một hình chữ nhật sẽ nhỏ gọn hơn “con mắt ngựa vằn” của Woodland.
Ông đã phát triển một hệ thống sử dụng laser và máy tính mà rất nhanh chóng họ có thể dán nhãn cho các sản phẩm khi chúng đi qua máy quét.
Nhà bán lẻ vs. nhà sản xuất
Hình tượng mà Joseph Woodland tạo ra đã trở thành một hiện thực công nghệ.
Trong khi đó các cửa hàng tạp hoá ở Mỹ cũng đang cân nhắc lợi ích của một mã sản phẩm công nghiệp.
Vào tháng 9 năm 1969, các thành viên của ủy ban các hệ thống hành chính của Các nhà sản xuất hàng tạp hóa Hoa Kỳ (Grocery Manufacturers of America – GMA) đã gặp bất đồng về con số với Hiệp hội Lương thực Quốc gia (National Association of Food Chains – NAFC). Liệu các nhà bán lẻ và nhà sản xuất có đồng thuận với nhau không?

How the barcode changed retailing and manufacturing_3
GMA muốn một mã gồm 11 chữ số, bao gồm các chương trình dán nhãn khác nhau mà họ đã sử dụng. NAFC muốn một mã ngắn hơn, 7 chữ số, có thể được đọc bởi các hệ thống thanh toán đơn giản và rẻ hơn.
Cuộc họp đã kết thúc trong thất vọng. Nhiều năm ngoại giao cẩn thận – và vô số các ủy ban, các tiểu ủy ban và các ủy ban đột xuất được yêu cầu, cuối cùng, ngành công nghiệp thực phẩm của Hoa Kỳ đã đồng thuận về một tiêu chuẩn cho mã sản phẩm phổ quát (universal product code), hay được gọi với cái tên UPC.
Tất cả đã được thực hiện vào tháng 6 năm 1974 tại quầy tiếp tân của siêu thị Marsh ở thị trấn Troy, Ohio, khi một nhân viên thanh toán 31 tuổi tên là Sharon Buchanan đã quét 10 gói gồm 50 cái kẹo cao su trái cây hiệu Wrigley qua một máy quét lazer, giá tự động báo $ 0.67 (£ 0.55).

How the barcode changed retailing and manufacturing_2

Chuyển đổi quyền lực
Thế là, kẹo cao su đã được bán. Và mã vạch đã được sinh ra như thế.
Chúng tôi thường nghĩ đến mã vạch như là một công nghệ cắt giảm chi phí đơn giản: nó giúp các siêu thị kinh doanh hiệu quả hơn, vì vậy nó giúp chúng ta tận hưởng mức giá thấp hơn.
Tuy nhiên, mã vạch đem lại nhiều lợi ích hơn thế. Nó thay đổi sự cân bằng quyền lực trong ngành công nghiệp thực phẩm.
Đó là lý do tại sao tất cả các cuộc họp của ủy ban là cần thiết và đó là lý do tại sao ngành công nghiệp bán lẻ thực phẩm chỉ có thể đạt được thỏa thuận khi các chuyên gia kỹ thuật trong các ủy ban được thay thế bởi các ông chủ của họ, các giám đốc điều hành.
Một phần của khó khăn là làm sao để mọi người cùng hướng tới một hệ thống mà thực sự sẽ không hiệu quả nếu không có một số lượng lớn người chấp nhận.
Việc cài đặt máy quét rất tốn kém. Việc thiết kế lại bao bì với mã vạch cũng rất tốn kém – hãy nhớ rằng công ty Bia Miller vẫn đang in nhãn cho chai của mình trên máy in đời 1908 sử dụng trong báo chí.
Các nhà bán lẻ không muốn cài đặt máy quét cho đến khi các nhà sản xuất đã đặt mã vạch lên sản phẩm của họ. Các nhà sản xuất không muốn đặt mã vạch trên sản phẩm của mình cho đến khi các nhà bán lẻ cài đặt đủ máy quét.

How the barcode changed retailing and manufacturing_5

Nhưng theo thời gian, mọi việc cũng đã trở nên rõ ràng khi mà mã vạch đang thay đổi độ nghiêng của sân chơi theo hướng có lợi cho một loại bán lẻ nhất định. Đối với một cửa hàng nhỏ tiện dụng thuộc quản lý gia đình, máy quét mã vạch là một giải pháp tốn kém cho những vấn đề mà họ thực sự không có.
Nhưng các siêu thị lớn có thể khấu hao chi phí của các máy quét thông qua doanh số bán hàng nhiều hơn nữa. Chúng có giá trị bởi vì các hàng xếp sẽ ngắn hơn tại quầy thanh toán. Và họ cũng cần theo dõi hàng tồn kho.
Với thanh toán thủ công, một nhân viên cửa hàng có thể tính tiền một sản phẩm cho khách hàng, rồi sau đó bỏ tiền vào túi riêng mà không đăng ký. Với hệ thống mã vạch và máy scanner, hành vi như vậy sẽ trở nên dễ thấy.
Và những năm 1970, thời điểm lạm phát cao ở Mỹ, mã vạch cho phép siêu thị thay đổi giá sản phẩm bằng cách dán nhãn giá mới lên kệ thay vì mỗi mặt hàng.
Lợi ích của quy mô
Không có gì đáng ngạc nhiên khi các mã vạch phổ biến trong thập kỷ 70 và 80, thì các nhà bán lẻ lớn cũng mở rộng. Dữ liệu máy quét đã giúp hỗ trợ cho dữ liệu khách hàng và thẻ khách hàng trung thành.
Bằng cách theo dõi và tự động hoá tồn kho, nó khiến việc phân phối just-in-time trở nên hấp dẫn hơn và giảm chi phí của việc kinh doanh nhiều dòng sản phẩm khác nhau. Các cửa hàng nói chung – và các siêu thị nói riêng – bắt đầu bán hoa, quần áo, và các sản phẩm điện tử.
Vận hành một hoạt động to lớn, đa dạng, phức tạp về mặt logic đã trở nên dễ dàng hơn nhiều trong thế giới của mã vạch.
Có lẽ minh chứng của thực tế đó là vào năm 1988 khi cửa hàng giảm giá của Wal-Mart quyết định bắt đầu bán thực phẩm.
Đây là chuỗi cửa hàng tạp hóa lớn nhất ở Mỹ và là nhà bán lẻ lớn nhất trên hành tinh này, lớn bằng tổng số 5 đối thủ gần nhất cộng lại. Wal-Mart là công ty áp dụng sớm mã vạch và đã tiếp tục đầu tư vào việc quản lý logistics và quản lý kho hàng tiên tiến được thúc đẩy bởi máy tính.

How the barcode changed retailing and manufacturing_4

Công ty hiện là một cửa ngõ lớn giữa các nhà sản xuất Trung Quốc và người tiêu dùng Mỹ. Sự đón nhận công nghệ này đã giúp nó phát triển đến một quy mô rộng lớn, có nghĩa là nó có thể gửi người mua sang Trung Quốc và đòi các sản phẩm giá rẻ với số lượng lớn.
Từ quan điểm của các nhà sản xuất Trung Quốc, bạn có thể thỏa mãn bằng việc thiết lập toàn bộ dây chuyền sản xuất chỉ cho một khách hàng – miễn là khách hàng đó là Wal-Mart.

Mã vạch giờ đây là một biểu tượng của các lực lượng chủ nghĩa tư bản toàn cầu không cá nhân đến nỗi nó đã tạo ra sự phản kháng của chính nó. Kể từ những năm 1980, người ta đã thể hiện sự phản đối của họ đối với nhà cầm quyền bằng cách tự xăm mình với một mã vạch.
Vâng, những sọc đen và trắng đặc biệt này chỉ là một mảnh nhỏ kỹ thuật. Nhưng mảnh nhỏ kỹ thuật này đã thay đổi cách mà nền kinh tế thế giới thích nghi với nhau.

—–
Nguồn: theo Tim Harford, BBC News

%d bloggers like this: