fbpx

TIN TỨC

Chuyên mục

TIN XEM NHIỀU

18Nov

Tương lai của ngành Logistics trong 5-10 năm tới sẽ ra sao ?: nghiên cứu toàn diện của PWC

Trong chuỗi các bài “PwC’s Future Insight Series” được công bố từ PwC, Smartlog đã...

06Jan

Điều gì xảy ra khi chuỗi cung ứng gặp blockchain?

Cho đến nay, Smartlog đã cung cấp nhiều bài viết nói về blockchain và tiềm...

08Sep

Công nghệ thực tế ảo tăng cường (AR) trong logistics (Phần 1)

Làn sóng thay đổi lớn tiếp theo của ngành công nghiệp logistics có lẽ sẽ...

07May

ANC: “THAY ĐỔI ĐỂ TỒN TẠI, THAY ĐỔI ĐỂ PHÁT TRIỂN.”

Được thành lập từ năm 1996, Công ty TNHH ANC là một trong những công...

18Apr

IDOCEAN GIÚP NGƯỜI TIÊU DÙNG KHÔNG BAO GIỜ THIẾU NHỮNG MÓN NGON VỚI STM

Nhắc đến Idocean hẳn nhiều người vẫn còn lạ lẫm với tên thương hiệu này,...

Liên kết chuỗi cung ứng mà cả Walmart & Amazon đều đang thiếu là gì?

“Amazon vs. Wal-Mart ” từ lâu đã trở thành đại diện cho sự cạnh tranh giữa các nhà bán lẻ trực tuyến và truyền thống, tuy nhiên hai kênh này cũng có thể sẽ trở thành một dạng như là nhà bán lẻ truyền thống chuyển sang trực tuyến, hay là các nhà bán lẻ trực tuyến tìm kiếm một mối quan hệ gần gũi hơn với người tiêu dùng.

Fortune đã báo cáo vào tháng hai rằng Amazon chiếm hơn một nửa (53%) tăng trưởng thương mại điện tử (e-commerce) tại Mỹ vào năm ngoái. Nghiên cứu đó từ Slice Intelligence cũng đã cho thấy một lợi thế cạnh tranh cốt lõi của Amazon: “Các kiện hàng của Amazon mất trung bình 3.4 ngày để giao đến tay người tiêu dùng, so với thời gian 5.6 ngày của những đối thủ khác”.

 

Sự cạnh tranh trực tuyến đã dẫn đến hàng trăm cửa hàng bán lẻ truyền thống phải đóng cửa, những người sau đó khôi phục lại tất cả mọi thứ từ trải nghiệm thương hiệu trong cửa hàng đến ứng dụng di động và chiến lược thương mại điện tử (e-commerce) tổng thể.

 

Nhiều cửa hàng cung cấp đơn đặt hàng tùy chỉnh, dịch vụ tốt hơn cho khách hàng đặt hàng trực tuyến thông qua các kênh riêng của họ và thậm chí đặt hàng qua Amazon.

 

Về phần mình, Wal-Mart đã đầu tư rất nhiều vào sản xuất ở Bắc Mỹ và kết hợp với Facebook, Uber và Lyft để thử nghiệm và mở rộng các lựa chọn cho đặt hàng và phân phối hàng tạp hóa dựa trên thiết bị di động.

Vào đầu năm 2014, Tiến sĩ Yossi Sheffi dự đoán rằng Walmart sẽ giành chiến thắng trong cuộc chơi giao hàng nhanh (cùng ngày) và đánh bại Amazon. Lý do cốt yếu là: người khổng lồ bán lẻ truyền thống này có hàng ngàn “nhà kho nhỏ – mà họ gọi là các cửa hàng”.

 

Amazon đang cạnh tranh trực tuyến và phi trực tuyến. Công ty Amazon đang điều hành một số nhà sách truyền thống với nhiều kế hoạch triển khai trong suốt cả năm.

 

“Wal-Mart sẽ giành chiến thắng trong cuộc chơi giao hàng nhanh (cùng ngày) và đánh bại Amazon”

Tiến sĩ Yossi Sheffi, MIT Center for Transportation & Logistics

 

Tiếp theo: các cửa hàng tạp hóa loại bỏ các hàng dài xếp hàng chờ thanh toán bằng cách sử dụng cảm biến để tự động tính tiền người mua sắm khi họ chọn sản phẩm và đi ra ngoài cửa. Từ phía cung (upstream) của chuỗi cung ứng, đầu tư và / hoặc kế hoạch nằm trong phạm vi từ robot nhà kho đến máy bay chở hàng và đầu kéo xe tải, rồi đến một bằng sáng chế năm 2016 về Trung tâm xử lý đơn hàng giống như khinh khí cầu (Airborne Fulfillment center) để triển khai các máy bay giao hàng không người lái (drones).

 

Ranh giới đang mờ dần giữa các nhà bán lẻ truyền thống và trực tuyến trong thương mại đa kênh (omni-channel) sẽ mang các công nghệ mới đến, nhưng không có cái nào sẽ giải quyết vấn đề mà cả hai đang gặp phải: thiếu độ hiển thị dữ liệu cho các kế hoạch, sản xuất, tùy chỉnh và cung cấp một cách hiệu qảu các sản phẩm thực cho những người tiêu dùng thực. Hiện tại, hầu hết các chuỗi cung ứng đều không có chức năng cốt yếu để làm được điều đó.

 

Vậy điều gì đang thiếu? Đó là một “Đơn hàng hoàn hảo”

Chuỗi cung ứng phía cung* của các nhà bán lẻ (retailer hoặc e-tailer) là bộ sưu tập rộng lớn của các thương hiệu, nhà sản xuất, nhà sản xuất hợp đồng / đóng gói, các công ty logistics và nhiều nhà cung cấp nữa.

 

Các thương hiệu hàng đầu từ cách đây rất lâu đã sử dụng các hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (Enterprise Resource Planning – ERP), trong khi các nhà cung cấp của họ phần lớn đã thất bại trong việc đạt được dữ liệu có thể sử dụng được từ các hệ thống quản lý kho (Warehouse Management System – WMS) mà họ sử dụng để sản xuất (và tùy chỉnh) sản phẩm, và phải dùng đến giải pháp bảng tính truyền thống.

Last-Mile Supply Chain Mastery Is Your ERP Really Up for the Job_1

Cả hai hệ thống ERP và WMS đều thiếu tính cụ thể trong việc quản lý chính xác việc thực hiện và xử lý phần lớn các đơn hàng trong thời đại tuỳ biến hàng loạt, mà ngày càng đòi hỏi phải thuê ngoài sản xuất và đóng gói.

 

Các hệ thống ERP hàng đầu dựa trên mô hình SCOR ** để mô tả các hoạt động sản xuất. Một khái niệm con, được gọi là “Đơn hàng hoàn hảo” đã bị trì hoãn, với những người đề xướng chờ đợi nó trở thành hiện thực hơn.

 

Một người đề xướng đó là Dave Blanchard (từ IndustryWeek và Material Handling & Logistics) nhấn mạnh tầm quan trọng của khái niệm “Đơn hàng hoàn hảo” như là thước đo để cải thiện việc thực hiện và xứ lý đơn hàng trong cuốn sách của ông về thực tiễn tốt nhất trong chuỗi cung ứng. Nói ngắn ngọn, khái niệm này dựa trên tỷ lệ phần trăm các bước không có lỗi trong suốt vòng đời của một đơn hàng – đúng sản phẩm, đúng điều kiện, giao hàng đúng hạn và không bị hư hỏng, v.v …

 

Vấn đề là các hệ thống ERP và WMS thiếu chức năng cụ thể để theo dõi dữ liệu vận hành tại bên đóng gói theo hợp đồng và các công ty thuê ngoài có liên quan. Nếu không có công nghệ phù hợp để lấp đầy khoảng trống chức năng, thì không thể đo lường và cải tiến để trở nên “hoàn hảo hơn”. SCOR hiện đang tiến triển tại WERC (Warehouse Education, and Research Council – Hội đồng Giáo dục và Nghiên cứu Kho hàng), chúng tôi hy vọng sự tiến bộ hơn nữa của kiến thức về “Đơn hàng hoàn hảo”.

Thay vì tập trung vào quá nhiều biến số, các chuyên gia khuyên người dùng nên bắt đầu với một vài chỉ số quan trọng như giao hàng đúng giờ, hóa đơn chính xác, và tỷ lệ không bị hư hỏng để đạt được việc thực hiện tối ưu đơn hàng.

 

Ngoài các cải tiến nội bộ, các công ty có thể hướng đến mục tiêu hội nhập lớn hơn với các đối tác. Khi được triển khai trên toàn bộ hoạt động của nhiều đối tác trong chuỗi cung ứng để tạo thành một mạng lưới Đơn hàng hoàn hảo.

Mục đích là đạt được một doanh nghiệp hợp nhất, mang tính hợp tác cao trong việc tùy chỉnh sản phẩm chặng cuối với việc giảm chất thải trên phạm vi toàn cầu của các dịch vụ dành cho các nhà bán lẻ và người tiêu dùng cuối cùng.

 

Nếu không có tích hợp như vậy, cái mà Amazons và Wal-Mart mong muốn về tốc độ giao hàng đến khách hàng của thế giới sẽ chỉ được xoay sở một cách kém hiệu năng. Nhưng khi các thương hiệu và nhà cung cấp của họ chia sẻ cùng một dữ liệu – một nguồn duy nhất – thì những cơ hội mới xuất hiện.

 

Dĩ nhiên, những cơ hội mới đòi hỏi phải có những thách thức mới, bao gồm cả việc cung cấp cho các nhà bán lẻ trực tuyến và truyền thống khả năng hiển thị dữ liệu tốt hơn.

 

—–

Chú thích:

*upstream supply chain – một số tài liệu dịch là chuỗi cung ứng thượng nguồn

*SCOR model: Supply Chain Operations Reference (SCOR®) Model, mô hình tham khảo cho vận hành chuỗi cung ứng, được Supply Chain Council đề xuất, với cấu trúc chính gồm có PLAN – SOURCE – MAKE – DELIVER – RETURN và các chỉ tiêu hiệu quả hoạt động được phân thành 3 cấp độ.  SCOR cho phép các tổ chức nhanh chóng xác định và so sánh hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng và các hoạt động liên quan trong tổ chức của họ và so với các tổ chức khác.

Xem thêm tại LINK

—–

Nguồn: Supply Chain 247

  • support

    demo

%d bloggers like this: