fbpx

TIN TỨC

Chuyên mục

TIN XEM NHIỀU

18Nov

Tương lai của ngành Logistics trong 5-10 năm tới sẽ ra sao ?: nghiên cứu toàn diện của PWC

Trong chuỗi các bài “PwC’s Future Insight Series” được công bố từ PwC, Smartlog đã...

06Jan

Điều gì xảy ra khi chuỗi cung ứng gặp blockchain?

Cho đến nay, Smartlog đã cung cấp nhiều bài viết nói về blockchain và tiềm...

08Sep

Công nghệ thực tế ảo tăng cường (AR) trong logistics (Phần 1)

Làn sóng thay đổi lớn tiếp theo của ngành công nghiệp logistics có lẽ sẽ...

07May

ANC: “THAY ĐỔI ĐỂ TỒN TẠI, THAY ĐỔI ĐỂ PHÁT TRIỂN.”

Được thành lập từ năm 1996, Công ty TNHH ANC là một trong những công...

18Apr

IDOCEAN GIÚP NGƯỜI TIÊU DÙNG KHÔNG BAO GIỜ THIẾU NHỮNG MÓN NGON VỚI STM

Nhắc đến Idocean hẳn nhiều người vẫn còn lạ lẫm với tên thương hiệu này,...

Kiến thức cơ bản về kho hàng hiện đại – Phần 3: Bổ sung đơn hàng hiệu quả

Trong hai phần trước, chuỗi các Kiến thức cơ bản về quản lý kho hàng hiện đại – Warehouse basics series mà Smartlog đã giới thiệu, chúng ta đã tìm hiểu qua việc nhận hàng hóa, đưa chúng vào lưu kho và tổ chức chúng như thế nào để chờ đợi nhu cầu. Và bây giờ chức năng bổ sung đơn hàng (replenishment) chịu trách nhiệm cho sự di chuyển của sản phẩm từ kho – hoặc, trong một số trường hợp, trực tiếp từ khu vực tiếp nhận – đến nơi chúng sẽ được chọn (picking area).

Khu vực chọn hàng nhanh (fast-pick hay forward pick area) chứa các SKU có thể được chọn chiếm một không gian nhỏ hơn khu vực lưu trữ dự trữ để tạo điều kiện cho việc chọn hàng hiệu quả với khoảng cách di chuyển tối thiểu. Các khu vực chọn hàng nhanh có thể bao gồm pallet trên giá kệ hoặc pallet chọn trên sàn, hoặc chỉ một vài kiện, hoặc thậm chí là các  sản phẩm đã được chiết sang các bao (tote)  trong hệ thống lưu trữ và thu hồi tự động (automated storage and retrieval systems – AS / RS) để chọn hàng trực tiếp.

Bổ sung đơn hàng (replenishment) thông thường được kích hoạt bởi sự nhu cầu ở làn chọn hàng nhanh. Kích hoạt đó, ngưỡng thấp hơn mà tại đó một nhiệm vụ bổ sung được tạo ra, là tối thiểu. Số lượng được chuyển từ kho đến vị trí chọn hàng cần phải làm đầy vị trí đó đến mức tối đa. Ví dụ, khi một làn lưu trữ kiện chứa 7 kiện còn lại 2 kiện, nhiệm vụ bổ sung sẽ hướng 5 kiện đến vị trí chọn hàng. Hoặc, khi một vị trí ba pallet giảm xuống còn hai, thì một cái nữa sẽ được yêu cầu.

Các quy tắc min / max cũng có thể được điều chỉnh dựa trên số lượng có thể sắp xếp lại hợp lý. Ví dụ, nếu có 15 kiện trên mỗi pallet của một SKU với nhu cầu hàng ngày cho 10 kiện, một nhiệm vụ bổ sung nên được đặt cho không ít hơn 15 kiện, hoặc tăng lên theo đó.

Không có quy tắc min/max nào có thể bao hàm tất cả SKU và các kịch bản. Các quy tắc min / max SKU theo từng cụ thể này nhằm mục đích cân bằng tần suất bổ sung, hiệu quả của tác nhiệm vụ bổ sung và hiệu quả của làn chọn (pick lane) để tối ưu hóa năng suất và giảm thiểu sức lao động.

Các quy tắc cần phải cân nhắc bao gồm:

  • Kích thước của khuôn viên chọn (pick face): Khuôn viên chọn quá nhỏ so với nhu cầu đối với nó sẽ làm tăng quá nhiều sự bổ sung và năng suất sẽ bị ảnh hưởng. Mục đích là làm sao có càng ít số lần bổ sung càng tốt trong khi duy trì khuôn viên chọn nhỏ nhất có thể.
  • Mức độ sẵn có của sản phẩm trong hàng tồn kho là bao nhiêu: Nếu không có đủ lượng hàng dự trữ để đáp ứng nhu cầu, sản phẩm có thể được gửi trực tiếp đến khu vực chọn sau khi nhận hàng (mà không qua bước 2 – lưu trữ). Để giảm thiểu tác vụ, nhiệm vụ bổ sung này có thể được đặt hàng trước cả khi đạt đến mức min. (Không phải tất cả các hệ thống đều cung cấp chức năng này và thay vào đó đòi hỏi sản phẩm phải được đặt vào lưu trữ).
  • Số khối của SKU: Ngay cả khi chúng được đặt hàng ở mức giá tương tự, một hộp bút và một băng giấy vệ sinh 24 cuộn cần vị trí chọn hàng phù hợp với kích thước và khối lượng của chúng.

 

Khi một vị trí chọn đạt đến mức tối thiểu của nó, hệ thống quản lý kho (Warehouse Management System – WMS) sẽ đưa ra một tác vụ bổ sung. Điều này có thể hướng dẫn một người vận hành xe nâng truy xuất và đưa ra một pallet đầy, khi đó tác vụ bổ sung hoàn tất. Các thiết lập khác có quy trình bổ sung hai bước, trong đó ví dụ một người chọn đơn hàng truy xuất các kiện với một hoặc nhiều SKU và đưa chúng đến bộ bổ sung thứ hai tại mô đun chọn. Người này sau đó có thể chỉ cần đặt các hộp ở vị trí chọn hoặc thực hiện các tác vụ giá trị gia tăng khác để làm cho sản phẩm sẵn sàng, như mở một hộp hoặc dán nhãn cho mỗi hộp.

Lý tưởng hơn, việc bổ sung không ảnh hưởng đến việc chọn, chẳng hạn như một mô-đun chọn, nơi xảy ra sự kiện “chọn hàng” ở một bên và sự kiện “bổ sung” ở bên kia. Trong các hệ thống lưu trữ tự động, cách tốt nhất là có các khu vực khởi tạo và chọn lọc riêng biệt, vì ở khối lượng lớn, hệ thống không thể có khả năng vượt ra ngoài công suất luồng hàng ra (outbound flow). Có một số kịch bản khi một nhân viên được đào tạo đa tác vụ với thời gian rảnh có thể thực hiện một số tác vụ bổ sung đơn hàng, hoặc ngược lại, nhưng nói chung tốt nhất là nên để người chọn hàng làm tác vụ chọn thôi.

Vai trò và trách nhiệm

Phân lô, vị trí và kích cỡ của khuôn viên chọn hàng phải được cân bằng với các quy tắc min / max để đảm bảo bổ sung và chọn hiệu quả. Nếu một khuôn viên chọn 2 kiện được sắp xếp tác vụ với các đơn đặt hàng cho 10 kiện mỗi ngày, một địa điểm đó sẽ yêu cầu bổ sung 5 lần mỗi ngày. Nếu có từ 20 kiện đến một pallet, thì sẽ hợp lý hơn nếu chuyển SKU đó sang vị trí chọn pallet, nơi mà một bổ sung có thể đáp ứng được như cầu của hai ngày.

Mặt khác, một chuỗi các khuôn viên chọn, mỗi cái có thể đáp ứng nhu cầu của hai tuần sẽ tạo ra một khu vực chọn hàng rộng lớn, đòi hỏi đi lại nhiều lãng phí và sẽ làm giảm năng suất của người chọn hàng. Ví dụ cực đoan nhất của việc này là mô hình bổ sung zero nơi toàn bộ hoạt động chọn hàng xảy ra ở các vị trí lưu trữ. Trong trường hợp này, nhân lực cho tác vụ bổ sung là số không, nhưng nhân lực cho tác vụ chọn hàng lại tăng lên đột biến khi người chọn hàng đảm trách toàn bộ kho để chuẩn bị cho một đơn đặt hàng. Một nơi nào đó giữa hai thái cực là cân bằng tối ưu về chi phí và năng suất lao động.

Tất nhiên, sự cân bằng không bao giờ đứng yên ở vị trí cân bằng, đó mới là chuyện để nói. Các hoạt động thương mại điện tử nói riêng rất nhạy cảm với sản lượng theo mùa. Vào tháng 5, có nhiều khả năng một nhân viên được đào tạo đa tác vụ qua lại sẽ phải chạy qua chạy lại giữa nhiều tác vụ khác nhau. Trong tháng 11, không ai muốn thuê nhiều người chọn hơn mức cần thiết, vì việc chọn có xu hướng trở thành một kỹ năng cần được tích lũy và được đào tạo chi tiết hơn so với nhiệm vụ lưu vào kho (putaway) bổ sung (replenishment). Tính linh hoạt trong nhân sự là tốt, nhưng tốt hơn là lập kế hoạch cho phương pháp hiệu quả nhất và chỉ cần linh hoạt khi cần thiết.

Khi không còn cân bằng bổ sung, hai triệu chứng sẽ xuất hiện. Thứ nhất, bộ phận chọn sẽ liên tục hết hàng tồn, điều này ngăn cản hệ thống giải phóng đơn đặt hàng hoặc kết quả là người chọn sẽ đến một vị trí mà không có hàng. Thứ hai, lao động bổ sung sẽ tăng nếu min / max được thiết lập chỉ cung cấp cho một nửa ngày làm việc. Thay vì bổ sung 10 lần một tuần, tốt hơn là nên hành động để điều chỉnh nhịp điệu một hoặc hai lần một tuần.

Phân lô lại (re-slotting) chính các cơ hội định kỳ để điều chỉnh sự cân bằng. Tính định kỳ của hoạt động này chính là một hành động tự cân bằng, được xác định trước hết bởi thực tiễn. Các hạn chế hoặc khả năng của các hệ thống phần mềm cũng sẽ ảnh hưởng đến việc liệu phân lô lại được thiết lập hàng năm, hàng quý, theo mùa hay thường xuyên hơn. Các giải pháp phân lô được thiết kế cho thị trường đại chúng cũng có thể cần phải tinh chỉnh để xử lý một số thứ như các chậu hoa lồng vào nhau, chẳng hạn. Nếu mỗi cái là có thể tích 1 khối, thì hai chậu chồng vào nhau sẽ không lên đến 2 khối.

Trong trường hợp mùa vụ, nếu khuyến mại hoặc SKU bắt đầu tăng nhanh, điều quan trọng là duy trì trung bình, chẳng hạn, nguồn cung cấp cho 5 ngày, điều mà có thể nhanh chóng chuyển từ 3 kiện sang 5 pallet. Lịch sử doanh số bán hàng hoặc dự báo có thể cho phép một vận hành chủ động hơn là phản ứng thụ động với những thay đổi này. Càng dự đoán nhu cầu trong tương lai tốt hơn thì các quyết định phân lô càng chính xác và hiệu quả hơn.

Liệu một SKU nhất định có cần phải được chuyển sang một khuôn viên chọn lớn hơn không? Một kệ chứa kiện hàng (case flow) sâu 8 hàng sẽ đòi hỏi số lần bổng sung ít hơn một nửa so với kệ sâu 4 hàng. Một lần nữa, tùy thuộc vào khả năng hệ thống hoặc sự tinh tường của người quản lý tồn kho, quá trình chuyển đổi đó có thể xảy ra tự động. Thay vì di chuyển sản phẩm, bạn chỉ cần để trống 4 hàng sâu trong khi bổ sung cho vị trí mới có 8 hàng sâu.

Để hỗ trợ tính linh hoạt này, khu vực chọn hàng nhanh phải được thiết kế cho các chỗ (slot) bổ sung, ngoài những gì cần thiết cho hoạt động chọn hàng. Mục tiêu chung là có sẵn từ 10% đến 15% chỗ (slot) cho mỗi lô. Điều này tương quan với quy luật chung rằng năng suất sẽ bị ảnh hưởng khi một nhà kho vượt quá 85% công suất.

Trong phần tiếp theo của Kho lưu trữ cơ bản, chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ về việc chọn hàng (picking). Là một quá trình phức tạp, quan trọng và phát triển nhanh chóng, việc chọn hàng có thể có nhiều vấn đề để bàn, nhưng chúng ta sẽ cố gắng bao quát càng nhiều càng tốt trong khi chia câu chuyện thành 2 chủ đề: chọn hàng ít hơn 1 kiện (less-than case) và nhiều hơn 1 kiện (more-than case). Hãy tiếp tục theo dõi những bài còn lại của chuỗi những kiến thức cơ bản về kho hàng hiện đại.

—-

Nguồn: Modern Materials Handling

%d bloggers like this: