fbpx

TIN TỨC

Chuyên mục

TIN XEM NHIỀU

18Nov

Tương lai của ngành Logistics trong 5-10 năm tới sẽ ra sao ?: nghiên cứu toàn diện của PWC

Trong chuỗi các bài “PwC’s Future Insight Series” được công bố từ PwC, Smartlog đã...

06Jan

Điều gì xảy ra khi chuỗi cung ứng gặp blockchain?

Cho đến nay, Smartlog đã cung cấp nhiều bài viết nói về blockchain và tiềm...

08Sep

Công nghệ thực tế ảo tăng cường (AR) trong logistics (Phần 1)

Làn sóng thay đổi lớn tiếp theo của ngành công nghiệp logistics có lẽ sẽ...

07May

ANC: “THAY ĐỔI ĐỂ TỒN TẠI, THAY ĐỔI ĐỂ PHÁT TRIỂN.”

Được thành lập từ năm 1996, Công ty TNHH ANC là một trong những công...

18Apr

IDOCEAN GIÚP NGƯỜI TIÊU DÙNG KHÔNG BAO GIỜ THIẾU NHỮNG MÓN NGON VỚI STM

Nhắc đến Idocean hẳn nhiều người vẫn còn lạ lẫm với tên thương hiệu này,...

Cross-docking: tại sao cần phải có một cách tiếp cận toàn diện?

Trong bài này, Smartlog sẽ giới thiệu bài báo được Journal of Business Logistics (JBL) lựa chọn và các ứng dụng thực tế của nó được tác giả giải thích trong nghiên cứu học thuật của họ.

Tạp chí Journal of Business Logistics (JBL) do Council of Supply Chain Management Professionals (CSCMP) xuất bản, được công nhận là một trong những tạp chí chuyên ngành hàng đầu trên thế giới. Nhưng đôi khi các nhà thực hành khó có thể hiểu làm thế nào để áp dụng các nghiên cứu được đề xuất trong trong tạp chí này vào công việc hàng ngày của họ. Để giúp thu hẹp khoảng cách đó, CSCMP’s Supply Chain Quarterly đã thách thức các tác giả của các bài báo đăng trên JBL giải thích những ý nghĩa của các nghiên cứu học thuật của họ trong thực tế để các nhà thực hành có thể hiểu và áp dụng được.

GIỚI THIỆU VỀ BÀI BÁO

Bài báo mang tên: “Just-in-time retail distribution: A systems perspective on cross-docking,” của 3 tác giả: Paul Buijs thuộc trường đại học Groningen, Hans W. Danhof thuộc công ty bán lẻ Hà Lan Blokker, và J. (Hans) C. Wortmann thuộc trường đại học Groningen. Ấn bản được đăng trên Journal of Business Logistics, tháng 09/2016

TÓM TẮT NỘI DUNG CHÍNH

Cross-docking là quá trình di chuyển hàng hoá thông qua mạng lưới phân phối mà không cần đặt chúng vào tồn kho được lưu trữ tại trung tâm phân phối. Nó thường bao gồm việc di chuyển các sản phẩm từ một xe chở hàng trực tiếp đến một xe chở hàng khác ra ngoài hoặc tạm lưu trữ chúng trên xe trước khi vận chuyển. Cross-docking cải thiện tốc độ xử lý của một mạng lưới phân phối đồng thời giảm lượng hàng tồn kho mà nó phải chứa.

 

Tuy nhiên, nhiều công ty phải rất vất vả mới có thể thực hiện có hiệu quả các chiến lược cross-docking. Một trong những lý do chính đó là đa số họ đã tiến hành cross-docking mà không có sự thay đổi cấu trúc tổ chức hoặc các chỉ số. Hầu hết các tài liệu về chuỗi cung ứng đều nhất trí rằng cách tiếp cận tốt nhất là một cách toàn diện, trong đó các hoạt động cross-docking không chỉ đồng bộ với các quy trình logistics đầu vào và đầu ra (inbound and outbound logistics) mà còn phải được quản lý bởi cùng những người có cùng chỉ số về hiệu quả hoạt động hoặc tương tự.

 

Nhưng điều này thường không xảy ra. Người quản lý giám sát các hoạt động cross-docking thường không tham gia vào các quy trình logistics đầu ra, và các chỉ số mà họ sử dụng chỉ tập trung vào hiệu quả nội bộ, chẳng hạn như quảng đường mà các thiết bị xử lý trong trung tâm phân phối di chuyển được.

 

Trong bài này, các tác giả đã cố gắng để chứng minh mức độ mà một phương pháp tiếp cận toàn diện của cross-docking có thể mang lại một lợi thế đáng kể so với một phương pháp tiếp cận địa phương hoá chỉ tập trung vào trung tâm phân phối. Để hoàn thành điều này, họ làm việc với một nhà bán lẻ lớn ở Hà Lan để xác định các cơ hội cải tiến cross-docking. Hai khả năng họ nghiên cứu là: 1) Liệu có nên thay đổi chính sách giao kiểu dock-door; Và 2) liệu nhà bán lẻ có nên khoanh vùng (cluster) và sắp xếp các hàng hoá cho cùng một nơi cross-docking hay tại một cơ sở gần khách hàng hơn nữa (further upstream) trong mạng lưới phân phối. Họ cũng đã sử dụng phần mềm mô phỏng để xác định cái nào sẽ tạo ra tác động lớn hơn: tập trung vào việc tối ưu hoá cục bộ, hay tập trung vào việc tối ưu hoá toàn bộ mạng lưới. Trong khi thực hiện một phần của quá trình đó, các tác giả phát hiện ra rằng các số liệu hiện tại của nhà bán lẻ đã không thể hiện đầy đủ các lợi ích của một cách tiếp cận toàn diện. Để giải quyết những thiếu sót đó, họ phát triển các chỉ số mới, mượn từ các khái niệm được sử dụng trong sản xuất tinh giản (lean manufacturing).

 

Tiến sĩ Paul Buijs, tác giả chính, đã nói chuyện với Supply Chain Quarterly về ý nghĩa của những phát hiện này có thể có đối với các công ty hiện đang sử dụng cross-docking hoặc đang nghĩ đến việc áp dụng kỹ thuật này.

Ông đang muốn khám phá những vấn đề gì thông qua nghiên cứu này?

Chúng tôi thấy rằng hầu hết lợi ích của cross-docking là để có mức tồn kho thấp hơn. Nhưng chính mức tồn kho thấp hơn cũng tạo nên thách thức chính cho hoạt động cross-docking. Do mức tồn kho thấp, một mối liên kết chặt chẽ hơn phát sinh giữa logistics bên trong trung tâm phân phối và các mạng lưới logistics đầu vào và đầu ra. Chúng tôi cũng thấy rằng cả nghiên cứu hàn lâm cũng như các chiến lược của chính các nhà thực hành đều hướng đến việc tối ưu hoá các hoạt động diễn ra ở cục bộ (local) – nói cách khác, làm thế nào để cải tiến các hoạt động cross-docking giữa chính trong trung tâm phân phối. Tuy nhiên, do sự kết hợp chặt chẽ giữa các hoạt động cross-docking cục bộ và mạng lưới logistics, bạn chỉ có nhận được rất nhiều lợi ích khi bạn tập trung cục bộ hóa mà thôi.

 

Thông điệp chính của chúng tôi là những nỗ lực trong tương lai nên hướng tới việc giải quyết vấn đề cross-docking từ quan điểm toàn diện khi chúng ta xem xét các mối quan tâm của cục bộ và toàn mạng lưới với nhau. Nhưng trước tiên, chúng tôi muốn xác minh tuyên bố này trên thực nghiệm. Sau đó, chúng tôi cũng đưa ra một ví dụ chi tiết về những gì các doanh nghiệp thực sự có thể làm với cách tiếp cận toàn diện này, những ý nghĩa mang lại cho các nhà quản lý và cách họ có thể áp dụng chúng.

Bài báo của ông trình bày một nghiên cứu trường hợp của một nhà bán lẻ lớn ở Hà Lan. Tại sao ông lại chọn tập trung vào nhà bán lẻ này?

Trước tiên, nhà bán lẻ này là một trong những nhà bán lẻ tạp hóa lớn nhất thế giới và được xem là công ty hàng đầu trong cách tổ chức hoạt động phân phối. Cross-docking là một phần trọng tâm của chiến lược phân phối của công ty. Và tại thời điểm chúng tôi bắt đầu nghiên cứu này, nhà bán lẻ này đang có kế hoạch thay đổi lớn trong mạng lưới phân phối của mình. Mặc dù sự thay đổi này không thực sự liên quan đến cross-docking, nhưng nó mang lại một cơ hội rất tốt để đề xuất và thử nghiệm một số thay đổi mạng lưới phân phối mà chúng tôi nghĩ rằng có thể cải tiến cross-docking từ góc độ hệ thống hay toàn bộ mạng lưới.

 

Trên hết là, một trong những nhà quản lý kho hàng tại nhà bán lẻ này sẵn sàng hợp tác với chúng tôi trong việc đề xuất và thử nghiệm một sự thay đổi cho nỗ lực cải tiến hoạt động cross-docking cục bộ. Điều này mang đến một cơ hội khá độc đáo để thu thập dữ liệu thực nghiệm nhằm hỗ trợ việc kêu gọi một cách tiếp cận toàn diện hơn về cross-docking.

Điều gì làm cho các chỉ số về hiệu quả hoạt động (performance metrics) mà ông đề xuất trong báo cáo này khác với các chỉ số truyền thống được sử dụng bởi các trung tâm phân phối cross-docking?

Chỉ số là một trong những yếu tố quan trọng đã thúc đẩy nghiên cứu này. Chúng tôi tin rằng bởi vì cross-docking không gì khác chính là nhằm vào giảm hàng tồn kho và cải thiện dòng chảy, nên nó có một sự tương tự gần với sản xuất tinh giản. Do đó cũng có ý nghĩa khi có sự liên kết với các chỉ số về hiệu quả hoạt động với nhau.

 

Điều nổi lên trong quá trình nghiên cứu của chúng tôi là hiện đang thiếu các chỉ số hiệu quả hoạt động mà sẽ kích thích ban quản lý xem xét cross-docking một cách toàn diện hơn. Các hoạt động cross-docking được quản lý theo nguyên tắc lưu kho truyền thống, trong đó một người quản lý sẽ chịu trách nhiệm về các hoạt động trong trung tâm phân phối và một người khác chịu trách nhiệm vận chuyển hoặc các hoạt động logistics khác trên toàn mạng lưới. Trên hết, mỗi trong số những nhà quản lý đó sẽ có bộ chỉ số riêng của họ nhằm hướng đến hoặc là hiệu quả hoạt động cục bộ hóa hoặc là hiệu quả hoạt động trên toàn mạng lưới.

 

Với những chỉ số hiện tại, rất khó để chúng tôi chuyển tải sự cần thiết phải thay đổi mà chúng tôi đề xuất với nhà bán lẻ. Vì vậy, chúng tôi đã bổ sung một số chỉ số hiệu quả hoạt động lấy cảm hứng từ sản xuất tinh giản (lean) just-in-time, tập trung vào luồng vận chuyển hàng (flow of loads) và WIP (work-in-progress: bán thành phẩm) trong toàn bộ mạng lưới phân phối. Một ví dụ có thể đưa ra là chúng tôi đã theo dõi số lượng các sản phẩm trong quá trình vận chuyển đang có mặt tại chỗ của cross-docking, mà tương đương với chỉ số WIP trong lean manufacturing. Chúng tôi cũng theo dõi khoảng thời gian tải hàng của các hệ thống cross-docking [tốn bao lâu để một chuyến hàng đi hết toàn bộ mạng lưới phân phối], điều này cho biết dòng vận chuyển (flow) được ít hơn hay nhiều hơn.

 

Chúng tôi cũng sử dụng các chỉ số truyền thống nhiều hơn bởi vì chúng tôi cảm thấy bằng cách này chúng tôi có thể liên hệ dễ dàng hơn với các nhà quản lý nhừo vào sử dụng chỉ số của riêng họ. Một ví dụ về chỉ số truyền thống mà chúng tôi đưa vào là khoảng cách di chuyển của các thiết bị xử lý vật liệu bên trong nơi cross-docking. Các thiết bị xử lý nguyên vật liệu càng di chuyển ít bao nhiêu, các nhà quản lý xem hoạt động cross-docking càng hiệu quả bấy nhiêu.

Làm thế nào các công ty có thể sử dụng thông tin này để cải tiến các hoạt động cross-docking của riêng mình?

Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng mặc dù các nỗ lực cải tiến cục bộ (địa phương) cho cross-docking có thể rất có tác dụng trong việc thực hiện các hoạt động bên trong trung tâm phân phối một cách hiệu quả hơn nhưng tác động của những cải tiến này từ góc độ thực hiện trên toàn hệ thống thực sự khá hạn chế.

 

Mặt khác, bài báo của chúng tôi cho thấy rằng ngay cả những thay đổi nhỏ trong thiết kế mạng lưới cũng có thể mang lại những cải tiến đáng kể về hiệu suất trên toàn hệ thống. Sự thay đổi thiết kế mạng lứoi được nghiên cứu trong bài báo của chúng tôi liên quan đến thay đổi vị trí mà các chuyến hàng (loads) được nhóm lại (gọi là nhóm hoặc cluster) và sắp xếp để phân phối ra cửa hàng; nghĩa là, từ trung tâm phân phối đến một cơ sở xa hơn về phía khách hàng trong mạng lưới phân phối. Đây chỉ là một ví dụ của một sự thay đổi trên toàn mạng lưới có thể gây ảnh hưởng sâu sắc đến hiệu quả hoạt động của cross-docking.

 

Báo cáo cũng chỉ ra rằng những thay đổi ở cấp độ toàn mạng lưới có ảnh hưởng đến một loại chỉ số hiệu quả hoạt động khác – một loại chỉ số mà hiện nay ít công ty sử dụng trong cross-docking. Nếu không có các chỉ số như vậy, nhiều cơ hội để cải thiện vận hành có thể bị bỏ lỡ. Chúng tôi chỉ cung cấp một vài ví dụ về các chỉ số có thể phản ánh những cơ hội này, chẳng hạn như số lượng phương tiện vận chuyển [bao gồm tất cả các thiết bị có bánh xe để di chuyển các kiện hàng] tại chỗ (tại khu vực cross-docking) hoặc mất bao lâu để các phương tiện vận chuyển này đi qua toàn bộ mạng lưới phân phối. Dữ liệu cho các đo lường này thường sẵn có trong hệ thống quản lý kho hiện tại của một công ty.

Đâu là mấu chốt mà các nhà thực hành có thể rút ra từ cuộc nghiên cứu của ông cho?

Trước hết, chúng tôi đã xác minh một cách thực nghiệm, và do đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng cách tiếp cận toàn diện vào cross-docking. Nhưng để có cách tiếp cận này, hoạt động quản lý cross-dock cần được tổ chức khác đi. Các công ty có thể xem xét việc thay đổi cách thức họ tổ chức quản lý trách nhiệm xung quanh hoạt động cross-docking. Họ cũng có thể xem xét việc áp dụng các thước đo hiệu năng mới mà có thể phản ánh tốt hơn phương pháp tiếp cận toàn diện của cross-docking.

 

Khi bạn gặp các rào cản giữa các bộ phận, đối với những người quản lý chịu trách nhiệm về các hoạt động nội bộ và những người quản lý chịu trách nhiệm về hoạt động của mạng lưới, và mỗi bên đều có các chỉ số riêng của mình, thật khó có thể thực hiện cross-docking hiệu quả. Vì vậy, một điều mấu chốt rút ra ở đây chính là bạn cần phải tổ chức cross-docking một cách khác đi để nhận thấy cơ hội và sau đó nắm bắt chúng.

 

——

Nguồn: Smartlog trích Supply chain quarterly, “The advantages of a holistic approach to cross-docking”, Quý 1/2017

%d bloggers like this: