fbpx

TIN TỨC

Chuyên mục

TIN XEM NHIỀU

18Nov

Tương lai của ngành Logistics trong 5-10 năm tới sẽ ra sao ?: nghiên cứu toàn diện của PWC

Trong chuỗi các bài “PwC’s Future Insight Series” được công bố từ PwC, Smartlog đã...

06Jan

Điều gì xảy ra khi chuỗi cung ứng gặp blockchain?

Cho đến nay, Smartlog đã cung cấp nhiều bài viết nói về blockchain và tiềm...

08Sep

Công nghệ thực tế ảo tăng cường (AR) trong logistics (Phần 1)

Làn sóng thay đổi lớn tiếp theo của ngành công nghiệp logistics có lẽ sẽ...

07May

ANC: “THAY ĐỔI ĐỂ TỒN TẠI, THAY ĐỔI ĐỂ PHÁT TRIỂN.”

Được thành lập từ năm 1996, Công ty TNHH ANC là một trong những công...

18Apr

IDOCEAN GIÚP NGƯỜI TIÊU DÙNG KHÔNG BAO GIỜ THIẾU NHỮNG MÓN NGON VỚI STM

Nhắc đến Idocean hẳn nhiều người vẫn còn lạ lẫm với tên thương hiệu này,...

5 nguyên tắc căn bản quyết định vận mệnh của một doanh nghiệp trong thời đại số: ta còn nhớ hay chưa biết?

Những thay đổi quan trọng nhất thường là thứ khó nhận ra nhất. Điều này đặc biệt đúng trong kinh doanh, nơi mà sự thay đổi đang diễn ra trên một quy mô lớn hơn bao giờ hết. Sự bùng nổ của công nghệ kỹ thuật số đã mang những thay đổi này lên vị trí hàng đầu. Chúng có thể được coi như là những nguyên tắc. Giống như định luật Moore hay luật Murphy, chúng giải thích cách thế giới vận hành.

Nếu bạn đang kinh doanh trong những năm 2010, hiểu được năm nguyên tắc này là điều cực kỳ quan trọng, bởi vì sự đột phá trong kỹ thuật số (digital disruption) đang nhanh chóng trở thành một điều bình thường. Nhiều chiến lược tăng trưởng có thể đã hiệu quả trong quá khứ không còn công dụng hiện tại. Các nguyên tắc giúp giải thích không chỉ điều gì tiếp theo sẽ xảy đến với công ty của bạn mà còn giải thích lý do tại sao.

  1. Học thuyết khả tính của Turing (theory of computability)

Máy móc có thể tính toán bất kỳ số lượng ngày càng tăng nào của các vấn đề mà có thể tính toán được.

Trong những năm 1930 và 1940, nhà toán học người Anh Alan Turing (người mà cuộc sống đã được dựng thành phim kinh dị The Imitation Game năm 2014), đã mở đường về tính khả tính (computability) và những hệ quả của nó. Ông xác định những gì ông gọi là các hoạt động “có thể tính toán được”: bất kỳ công việc mà máy tính lý thuyết (trong trường hợp này, là một mô hình toán học với một quy trình tương tự như một máy tính) có thể giải quyết. Sau khi xác định rằng tính khả tính (computability) có thể được xác định về mặt toán học, Turing sau đó giả định rằng các máy tính có khả năng thực hiện nhiệm vụ tính toán cũng như con người có thể. Trong e-book của mình Introduction to Computing: Explorations in Language, Logic, and Machines, Đại học Virginia, giáo sư David Evans dành một chương cho tính khả tính. Ông giải thích: “Một vấn đề có thể tính toán được nếu nó có thể được giải quyết bằng một số thuật toán. Một vấn đề mà được xem là không thể tính toán được nếu nó không thể được giải quyết bởi bất kỳ thuật toán nào.”

Năm 1950, Alan Turing đã trình bày minh họa cho tính khả tính (computability) mà cho đến ngày nay vẫn còn được nhớ đến với cái tên “thử nghiệm Turing”. Ông đã thành lập một thí nghiệm trong đó ông yêu cầu các đối tượng của mình trao đổi tin nhắn được đánh máy với một thực thể trong một phòng khác. Nhiều người xem không thể đoán chính xác xem liệu là một người hay một máy tính tạo ra các câu trả lời. Điều này chứng minh rằng một chương trình máy tính đảm nhận vai trò đại diện một cách thuyết phục về trí thông minh của con người, đủ tốt để hoạt động hiệu quả như một người làm nhiệm vụ đó. Hoặc, như Turing đã báo cáo (pdf) vào thời điểm đó, chương trình có thể “chơi trò chơi bắt chước một cách thỏa đáng” cho bất kỳ công việc tính toán nào. Ông dự đoán rằng trong 50 năm tới, máy móc sẽ, trong vòng năm phút, có thể đánh lừa một con người chất vấn chỉ trong 30% thời gian. Tiên đoán của ông đã thành hiện thực vào năm 2014.

Vào thời điểm Turing công bố báo cáo ban đầu của mình, chỉ có một số ít các hoạt động tính toán được. Tuy nhiên, ông đã tiên liệu rằng khi máy tính kỹ thuật số tiếp tục phát triển, số lượng các hoạt động tính toán được sẽ tăng lên – và, thực sự, chúng tiếp tục phát triển về số lượng và tầm ảnh hưởng ngày nay. Như vậy, đối với một cơ thể phát triển không ngừng của con người, máy móc cũng có năng lực cạnh tranh như con người, hoặc thậm chí hơn thế. Hơn nữa, không ai có thể nói chắc chắn rằng hoạt động nào sẽ bị ảnh hưởng với lý thuyết của Turing tiếp theo, hay hoạt động nào sẽ không.

five-overlooked-principles-shaping_1

Thật khó mà nói hết được tầm quan trọng của công trình của Turing về tính khả tính (computability) và trí tuệ nhân tạo. Nó đã khởi nguồn cho thời đại máy tính, thiết lập một thực tế rằng tất cả mọi thứ kỹ thuật số, từ máy tính đầu tiên cho đến điện thoại di động, được phổ biến ngày nay, có tiềm năng đảm nhận công việc hiện đang được thực hiện bởi con người. Khi công nghệ kỹ thuật số có giá trị cao xuất hiện, chẳng hạn như cổ máy tìm kiếm (search engines), các ứng dụng đi nhờ xe (ride-hailing), máy rút tiền tự động, các trang web đặt phòng du lịch, và nhiều cái khác, chúng không còn chối cãi gì nữa đang thay thế công việc của con người – và trong quá trình đó, chúng cơ bản thay đổi ngành công nghiệp.

Tác động của tính khả tính (computability) ngày càng tăng giải thích lý do tại sao các công ty lâu đời bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi số hóa (digitization) đến vậy. Trong một thế giới mà bất kỳ điều gì các công ty đang làm đều cũng có thể sớm được thực hiện bởi một máy tính, họ phải liên tục xác định lại bản thân sao cho phù hợp với kỹ thuật số – cho dù là Walmart mua lại Jet nhà bán bán lẻ Internet, GE làm cho sản phẩm công nghiệp của mình “thông minh”, hay John Deere phát triển máy cắt cỏ robot. Trong số các nhiệm vụ dự kiến có thể sớm tính toán được, có các vấn đề tỉ mỉ trong giao dịch M & A, dịch thuật theo thời gian thực từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác (như tiếng Anh sang tiếng Trung), một số hình thức lập trình, và hầu hết hoạt động lái xe các xe có động cơ của thế giới.

Đồng thời, những lo lắng (hay hy vọng) rằng máy tính sẽ hoàn toàn thay thế con người có thể là quá sớm. Mặc dù nhiều khía cạnh của hoạt động con người có thể được thực hiện bởi những làn sóng ngày càng tăng của tính khả tính, nhưng phần lớn những gì con người làm vượt quá khả năng của máy móc. Turing tự lập luận rằng một số nhiệm vụ sẽ không bao giờ có thể tính toán được. Lái xe và thực hiện các nhiệm vụ tỉ mỉ có thể sớm sẽ là chủ thể của máy móc, nhưng chỉ có con người mới có thể quyết định đi du lịch ở đâu và mua công ty nào.

  1. Định lý Coase về chi phí giao dịch:

Trừ chi phí giao dịch ra, đầu ra hiệu quả nhất sẽ chiếm ưu thế trong bất kỳ thị trường nào.

Cụm từ quan trọng trong định lý này là “ngoài chi phí giao dịch ra”. Định lý có nghĩa là đầu tư tiền bạc, thời gian, và sự quan tâm dành cho việc trao đổi hàng hoá và dịch vụ sẽ quyết định sức cạnh tranh của công ty bạn. Hay nói cách cách khác, những công ty với tiềm năng tăng trưởng chỉ có thể là những công ty giữ cho chi phí giao dịch giao dịch nội bộ (chi phí của riêng mình) thấp hơn so với chi phí giao dịch bên ngoài của họ (các chi phí giao dịch kinh doanh với những đối tác khác).

Bắt đầu từ cuối những năm 1930, nhà kinh tế học Ronald Coase đã nghiên cứu rất kỹ câu hỏi tại sao các công ty tồn tại và tại sao chúng trở nên giảm sút. (Ông nhận giải Nobel Kinh tế năm 1991, một phần nhờ vào công trình này.) Kết luận cuối cùng của ông đã được biết đến với tên định lý Coase: một công ty trở nên khả thi khi nó có thể tự mình thực hiện các hoạt động của mình với giá rẻ hơn so với họ thuê ngoài. Nếu không phải như vậy, sẽ không có công ty nào cả; thương mại sẽ hoạt động hoàn toàn thông qua các thị trường, với những người liên tục hình thành và cải biến mình thành các doanh nghiệp hoạt động theo dự án.

Nói tóm lại, khi làm kinh doanh một mình, mà không là một phần của một doanh nghiệp lớn hơn, bạn phải chịu nhiều loại chi phí giao dịch bên ngoài khác nhau. Các chi phí liên quan đến việc thu thập và chia sẻ thông tin, duy trì cơ sở hạ tầng, thương lượng với đối tác, hoạt động quản lý và tuân thủ thỏa thuận, tất cả đều giảm khi bạn không cần phải thương lượng một giao dịch mới mỗi khi bạn bắt đầu một cái gì đó mới. Các công ty lớn có lợi thế bởi vì họ có thể xử lý nhiều hoạt động nội bộ này hơn so với các doanh nghiệp nhỏ.

Nhưng các công ty cũng có chi phí nội bộ của nó. Hoạt động ở quy mô lớn đòi hỏi nhiều tầng lớp quản lý và giám sát nội bộ thực hiện bởi các nhân viên mà sẽ không cần thiết trong một công ty nhỏ hơn. Ngoài ra còn có các chi phí liên quan với chính trị nội bộ; chẳng hạn như, khi một dự án không thành công vì người khác không chấp nhận nó, kinh phí đã dành để phát triển nó bị uổng phí. Khía cạnh này ảnh hưởng một cách bất cân xứng đến các công ty lớn, nơi mà có xu hướng có nhiều hạn chế quan liêu nội bộ. Hơn nữa, chi phí nội bộ liên quan đến nhân viên (như dịch vụ y tế và đào tạo) có thể tăng cao trong một công ty lớn, nhưng sẽ được chuyển thành chi phí bên ngoài, nếu tất cả mọi người đều làm việc theo hợp đồng.

Định lý Coase giải thích những nhân tố kiềm chế tăng trưởng mà nhiều công ty lớn, nhỏ đang bối rối. Một công ty có thể phát triển khi và chỉ khi chi phí nội bộ của nó, bao gồm tất cả các chi phí vận hành, thấp hơn so với chi phí bên ngoài của nó. Khi chi phí nội bộ bằng hoặc vượt chi phí bên ngoài và công ty đã đạt đến điểm lợi nhuận giảm dần, nó sẽ ngừng mở rộng. Bởi vì chi phí giao dịch nội bộ thường rất khó phát hiện, các nhà lãnh đạo công ty có thể không nhận ra lý do tại sao công ty mình gặp khó khăn.

Các công nghệ kỹ thuật số mới đã gia tăng áp lực liên quan đến định lý Coase vì chúng làm giảm chi phí bên ngoài. Một số nhà quan sát tin rằng các công nghệ này sẽ rung lên hồi chuông báo tử cho các công ty lớn. Chẳng hạn như, công cụ tìm kiếm đã khiến cho việc có được thông tin ngày nay trở nên dễ dàng hơn và rẻ hơn trong quá khứ, và do đó đã làm xói mòn một lợi thế trước đây của các công ty lớn với nguồn lực lớn.

Nhưng số hóa (digitization) cũng làm giảm chi phí nội bộ – ít nhất là cho các công ty tận dụng công nghệ một cách hiệu quả. Điều này đã làm thay đổi kinh tế học về tổ chức nội bộ. Lấy ví dụ, dịch vụ dựa trên đám mây (cloud-based services), trong đó năng lực và chức năng được phối hợp dễ dàng và nhanh chóng hơn, mang lại mức năng suất cao hơn với cùng một lượng nhân viên và cho phép mở rộng tạm thời khi cần thiết mà không cần đầu tư vốn lớn. Các dịch vụ Web của Amazon, Microsoft và Google đã đầu tư vào xu hướng này, và dịch vụ như vậy có khả năng sẽ sinh sôi nảy nở. Một số công ty đã xây dựng nền tảng công nghệ kết nối tất cả các bộ phận của doanh nghiệp và chuỗi giá trị của họ với chi phí tương đối thấp so với các dự án CNTT của quá khứ. Do đó các công ty này đang trở nên cạnh tranh hơn so với lúc trước.

Khi số hóa (digitization) tiếp tục phát triển, chi phí giao dịch sẽ tiếp tục giảm. Điều này sẽ ảnh hưởng đến các quyết định những hoạt động nào một tổ chức nên tự làm và những hoạt động nào nên thuê ngoài. Một số thứ trước đây tự làm vốn rẻ hơn, bây giờ sẽ trở nên đắt hơn – ví dụ, việc duy trì đội ngũ nhân viên R&D, và do đó cần quan tâm đến giá trị của sự đổi mới mở. Trong khi đó, những thứ vốn có lợi khi thuê ngoài, như HR và đào tạo, bây giờ có thể trở nên ít tốn kém trong nội bộ, vì giảm hệ thống phân cấp có thể cho phép quản lý nhân tài và tuyển dụng thoải mái hơn (và do đó ít tốn kém hơn). Điều duy nhất không thay đổi đó là phép toán cơ bản: bạn càng giảm chi phí nội bộ của bạn thấp hơn so với chi phí bên ngoài, công ty bạn càng có nhiều khẩ năng phát triển.

  1. Định luật của Bell về sự ra đời và mất đi của các đời máy tính

Gần như mỗi thập kỷ, một thế hệ máy tính mới ra đời với giá thấp – và thay đổi tất cả mọi thứ.

Gordon Bell là một trong những kỹ sư nổi tiếng nhất trong ngành công nghiệp máy tính. Ông đã thiết kế hầu hết các loạt máy tính cá nhân PDP có tầm ảnh hưởng tại Digital Equipment Corporation; ông nghĩ ra và đồng sáng lập bảo tàng lịch sử máy tính đầu tiên ở Boston; và gần đây hơn, thí nghiệm của ông với “ghi lại cuộc sống (life-logging)” – tự động đưa các hình ảnh, âm thanh, và các tài liệu về những trải nghiệm hàng ngày của chúng ta vào kho lưu trữ kỹ thuật số – đã làm sâu sắc thêm sự hiểu biết của chúng ta về những điều máy tính có thể làm.

Bell cũng là một nhà tư tưởng lớn. Trong bài viết chuyên đề của mình (pdf) năm 1972, ông quan sát thấy rằng cứ khoảng mỗi thập kỷ, những tiến bộ trong chất bán dẫn, lưu trữ, giao diện, và các mạng lưới dẫn đến sự phát triển của một thế hệ máy tính mới, có giá thấp hơn và một ngành công nghiệp mới và thị trường mới sẽ đi cùng với nó. Điều này có xu hướng thay thế (ít nhất là một phần) đời máy cũ; điện thoại thông minh thế chỗ nhiều máy tính cá nhân, máy tính cá nhân thế chỗ máy tính lớn. Tất nhiên, máy tính lớn vẫn còn tồn tại như các siêu máy tính và máy chủ điện toán đám mây, nhưng các thế hệ máy tính mới tiếp tục xác định lại khả năng. Định luật của Bell cho rằng công nghệ phát triển thông qua các điểm cân bằng, lặp đi lặp lại, cứ thế đưa thế giới vào một tiêu chuẩn mới.

Mỗi lần một sự thay đổi trong các đời máy tính diễn ra, tác động của nó vượt xa không chỉ ở tầm công nghệ. Các nền tảng mới, hình thức lập trình mới, và các loại mạng lưới mới xuất hiện. Trong kinh doanh, một ngành công nghiệp mới nổi lên rõ rệt, thường với các công ty hoàn toàn khác biệt dẫn đầu. Các công ty cũ hoặc là thích ứng (như Apple đã làm với các điện thoại thông minh và Microsoft đã làm với các đám mây) hoặc là suy giảm (như Digital Equipment Corporation, Gateway, Kaypro, Osborne, và nhiều công ty khác).

Một minh họa điển hình cho thế hệ mới nhất đó là Internet of Things (IoT). Nó gồm có máy tính thu nhỏ, đủ nhỏ để nhúng trong toàn cộng đồng các ngành công nghiệp và đủ mạnh để theo dõi, phân tích và giao tiếp. Thế hệ này, chỉ vừa xuất hiện, đã và đang thúc đẩy tăng trưởng rất lớn. Các ngành ngân hàng, ô tô, quốc phòng, y tế, và an ninh là một vài ngành công nghiệp sử dụng các thiết bị mới nhất để đổi mới sản phẩm và dịch vụ. Các cơ hội mà điện toán nhúng (embedded computing) có thể cung cấp sẽ trở nên rõ ràng hơn khi IoT phát triển dần, nhưng không có nghi ngờ rằng thế hệ mới này sẽ hứa hẹn mang tính chuyển đổi như thế hệ máy tính trước đó.

  1. Khái niệm mô đun (concept of modularity) của Baldwin và Clark

Chia nhỏ một công nghệ hay quy trình thành các thành phần chức năng có liên quan sẽ tạo điều kiện cho sự đổi mới.

Trong cuối những năm 1990, Carliss Baldwin và Kim Clark, giáo sư của Harvard Business School, đã lưu ý rằng mô đun (modularity), còn được gọi là thiết kế mô đun (modular design), là một nhân tố quan trọng thúc đẩy tốc độ đổi mới. Mô đun là một kỹ thuật được sử dụng trong phát triển phần mềm, thiết kế ô tô, và các khía cạnh khác của kỹ thuật. Nó chia nhỏ một dự án công nghệ phức tạp thành một số thành phần chức năng có liên quan – được chuẩn hóa khi có yêu cầu tiêu chuẩn, và được thiết kế riêng biệt khi cần đến sự khác biệt.

Trong một hệ thống có tính mô đun cao, các thành phần tiêu chuẩn, hay gọi là mô-đun (module), có thể dễ dàng được hoán đổi, nâng cấp, và thích nghi theo những cách khác nhau cho các hệ thống khác nhau. Mô đun khiến dễ dàng hơn (và ít tốn kém hơn) khi quản lý sự phức tạp của một thiết kế. Ví dụ, một số bộ phận của một hệ thống máy tính mô-đun có thể mở rộng ra với các nhà sáng tạo bên ngoài (những người có thể thiết kế các ứng dụng và các phụ kiện khác cho nó) trong khi các phần khác được giữ độc quyền và không có sự can thiệp từ bên ngoài. Một hệ thống thật sự mô-đun có thể được thiết kế tùy theo từng khách hàng cá nhân mà không cần tái tạo toàn bộ thiết kế.

Nghiên cứu về thiết kế công nghiệp của Baldwin và Clark phát hiện ra rằng một sản phẩm càng mô đun hóa nhiều hơn, thì nó càng được đổi mới nhanh hơn. Ví dụ như máy tính, tất cả đều có một số bộ vi xử lý tiêu chuẩn hóa, bo mạch chính, và ổ đĩa cứng. Chúng cũng có cổng USB khiến dễ dàng nâng cấp thiết bị ngoại vi như tai nghe, lưu trữ, và ổ đĩa mà không cần phải nâng cấp máy tính. Các thành phần này tương thích đã không làm chậm lại sự đổi mới; mà trái lại, bởi vì các nhà sản xuất máy tính vẫn đang cạnh tranh mạnh mẽ, phát triển thành phần đã giúp tập trung R&D vào các tính năng, nơi đòi hỏi sự khác biệt.

Khái niệm của mô đun cũng được áp dụng trong các công ty. Các tổ chức có tính mô-đun có thể đổi mới một cách nhanh chóng hơn so với những công ty khác, bởi vì tốc độ nghiên cứu và phát triển của họ không bị chậm lại bởi các đơn vị hoặc sản phẩm chậm nhất. Hãy xem xét trường hợp Amazon, nó đã phát triển một kiến trúc dịch vụ cho phép nó cung cấp một mảng phức tạp của các dịch vụ tại các điểm chi phí thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh của nó. Đây là lý do chính mà nhà bán lẻ trực tuyến này đã tỏ ra rất thành thạo trong việc bước vào ngành công nghiệp mới và phát triển các dịch vụ mới – bao gồm cơ sở hạ tầng mô-đun riêng của mình, Amazon Cloud.

Mô đun trong một tổ chức không đòi hỏi phải thiết lập phòng R&D hoàn toàn tách biệt với các bộ phận khác. Tuy nhiên, cần chú ý đến thiết kế của quá trình R&D, chia sẻ một số quy trình và thực hành chung (chẳng hạn như mua sắm vật tư và sử dụng các nền tảng (platform) phần mềm dựa trên đám mây (cloud-based)) trong khi vẫn giữ các thực hành khác riêng biệt (chẳng hạn như tính năng độc đáo của phần cứng và phần mềm mà các đối thủ cạnh tranh không nên đảo ngược kỹ sư). Ngày nay, khi các công ty có thể chuyển từ analog sang kỹ thuật số, mô đun trở nên rất quan trọng bởi vì tốc độ và sự nhanh nhẹn là rất quan trọng.

  1. Định luật của Nakamoto về sổ cái phân phối (distributed ledger)

Các giao dịch cải thiện khi niềm tin được quản lý bởi hệ thống, chứ không phải bởi người trung gian. Chưa có ai gọi đó là “định luật Nakamoto”, nhưng nguyên tắc đằng sau công nghệ blockchain đã là nền tảng cho các thực hành kiểm định và chứng nhận tương lai. Trong một bài báo kỹ thuật (pdf) xuất bản năm 2008, Satoshi Nakamoto (bút danh của một cá nhân danh tính thực sự vẫn chưa được tiết lộ) quan sát thấy rằng thương mại trực tuyến vào thời gian đó dựa vào các tổ chức tài chính như là một bên thứ ba đáng tin cậy để xử lý thanh toán điện tử. Điều này tạo nên sự phức tạp không cần thiết và dễ bị lừa gạt hay thất bại. Ông thừa nhận rằng nếu hai bên có thể giao dịch điện tử với nhau mà không cần một bên giam sát thứ ba, giao dịch trực tuyến sẽ dễ dàng hơn và rẻ hơn.

Một vài tháng sau, Nakamoto phát hành phiên bản đầu tiên của Bitcoin: một loại tiền tệ kỹ thuật số với một sổ kế toán phân phối (distributed ledger), một công nghệ dữ liệu một đối một (peer-to-peer) đảm bảo xác minh thông qua một quy trình phần mềm được gọi là blockchain. Blockchain sử dụng một sổ cái phân phối kỹ thuật số để ghi lại các giao dịch điện tử, liên kết mỗi đầu vào mới (new entry) bằng mã với đầu vào đã có trước đó. Xác minh diễn ra thông qua sự phối hợp mạng. Máy tính, thông qua mạng lưới, góp phần vào sự tính toán của Bitcoin, lưu trữ sổ kế toán và trao đổi các mã mà tạo Bitcoins mới. Phương pháp phân phối này đảm bảo rằng tất cả các giao dịch được đăng là hợp pháp. Không một thành viên hoặc nhóm nào có thể làm tổn hại đến tính toàn vẹn của một sổ kế toán phân phối cho rất nhiều người tham gia.

Bitcoinsổ cái phân phối có khả năng thay đổi hoàn toàn kinh tế học về thương mại, ngân hàng, bỏ phiếu, giám sát, và các giao dịch được xác nhận khác. Số lượng và kích thước của giao dịch mà có thể được xóa tự động, không cần phê duyệt, có khả năng tăng đáng kể. Các giao dịch này sẽ là cơ sở cho những “hợp đồng thông minh”: tự động, ràng buộc về mặt pháp lý, và các thỏa thuận giao dịch tự thực thi. Bởi vì rủi ro liên quan đến uy tín (bao gồm cả rủi ro về danh tiếng) sẽ không còn nữa, các công ty sẽ trở nên năng động hơn. Họ sẽ tự do đón lấy các loại rủi ro. Hãy tưởng tượng mua bất động sản cũng dễ dàng như mua hàng tạp hóa, biết rằng giao dịch được an toàn vì các máy tính trên toàn thế giới, tất cả liên kết với nhau, sẽ cung cấp tính xác thực của tất cả các bên liên quan.

Định luật của Nakamoto là một phần mở rộng tự nhiên của bốn nguyên tắc khác được mô tả trên đây. Như Turing có thể dự đoán, nó đã mã hoá sự xác minh, vốn đã luôn luôn được giả định là một miền do con người thực hiện. Nó minh chứng cho chi phí giao dịch giảm như định lý Coase, trong đó có thể giảm nhiều chi phí liên quan đến dịch vụ tài chính. Định luật Nakamoto hoàn toàn có thể nhờ vào sự nổi lên của một thế hệ máy tính mới, các máy chủ liên kết qua lại và các thiết bị phần mềm (và mã hóa) dựa trên đám mây (cloud-based) hiện nay. Và nó minh họa cho sự hiệu quả của mô đun. Mặc dù cốt lõi của công nghệ này vẫn còn ẩn giấu, bản than Bitcoin phù hợp với nhau như các khối tương thích, mỗi cái có nguồn gốc từ mã của cái trước đó.

Sức mạnh của 5 nguyên tắc này

Tóm lại, 5 nguyên tắc này có hiệu quả kinh tế to lớn. Mặc dù chúng ta không thể dự đoán được mức độ đầy đủ tác động của chúng, nhưng rõ ràng chúng sẽ thay đổi cấu trúc và nguồn gốc của lợi nhuận trong hàng loạt các ngành công nghiệp trên thế giới. Hiện đã có, những chuyển đổi trong tính khả tính (computability), các thế hệ máy tính, sự năng động của chi phí giao dịch, và mô đun đã giúp các công ty như Amazon và Google có thể đạt đến con số không thể kể hết của các nhà cung cấp và khách hàng mà không phá vỡ chi phí vận hành của họ     .

Những nguyên tắc này cũng giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cách thức mà các công ty chiến thắng cạnh tranh trên thị trường ngày càng bị số hóa nhanh chóng hiện nay. Suy cho cùng, chiến lược tuyệt vời phụ thuộc vào sự hiểu biết những điều cơ bản của sự đổi mới, kinh tế học, và marketing, những thứ luôn thay đổi về mặt tạo ra giá trị. Sức mạnh sẽ chảy vào các doanh nghiệp biết nắm lấy tự động hóa (automation) , giảm chi phí nội bộ, sử dụng tốt hơn các thiết bị tiên tiến, thiết kế mô đun vào các sản phẩm và dịch vụ của họ, và tham gia vào các hệ thống xác minh kiểu blockchain. Để chắc chắn, các phương pháp tối ưu sẽ thay đổi từ một ngành này sang ngành khác: một bên thứ ba – con người – có thể đủ để đảm bảo an toàn giao dịch tại một số thị trường, song, trong các thị trường khác sẽ yêu cầu xác nhận của bên thứ ba – ảo – thông qua một hệ thống blockchain.

Khi các ngành công nghiệp tiếp tục hướng đến số hóa hoàn toàn, chúng ta sẽ thấy một sự chuyển đổi trong cách các chuyên gia nói về cạnh tranh và tăng trưởng. Như với định luật Moore, các xu hướng cơ bản đang dần trở nên rõ ràng. Nhưng cách chúng mất đi, và các chi tiết của quá trình tiến hóa ngành công nghiệp theo sau sẽ chứa đựng đầy những bất ngờ.

 

——

Nguồn: Smartlog trích bài “Five Overlooked Principles Shaping the Destiny of Your Business”, được đăng trên trang strategy-business.com, tháng 11/2016, bởi tác giả John Sviokla – principal and U.S. marketing leader tại PwC,  người đứng đầu Global Thought Leadership Institute và the Exchange

%d bloggers like this: