Smartlog Academy hân hạnh hợp tác với Viện quản trị Logistics và chuỗi cung ứng EDINS tại Hà Nội tổ chức khoá đào tạo “KỸ NĂNG ĐIỀU PHỐI VẬN TẢI TRÊN HỆ THỐNG QUẢN LÝ VẬN TẢI STM”

Logistics là một ngành đầy cơ hội cũng như thử thách trong 5 năm tới. Theo kết quả điều tra của Viện Nghiên Cứu và Phát Triển của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, hiện nay có tới 80,26% nhân lực trong các công ty Logistics chủ yếu vẫn được đào tạo thông qua các công việc hàng ngày. Câu hỏi đặt ra: liệu có cách nào để các bạn sinh viên ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường có thể hình dung rõ công việc logistics là gì và cơ hội thực hành bằng chính bàn tay khối óc của mình?

Smartlog Academy phối hợp với EDINS mong muốn mang đến cho newbie trong ngành Supply chain & Logistics và các bạn sinh viên mới ra trường cái nhìn tổng thể đồng thời sát thực nhất về nghề quản lý kho vận và vận tải. Cơ hội thực hành trên hệ thống TMS- Transportation Management System là duy nhất.

Thời gian khai giảng khóa học: ngày 15-16-17 tháng 05 năm 2018, 18:00-21:00
Địa điểm: (Học viên có thể lựa chọn 1 trong 2 địa điểm sau)
– Cơ sở 1: Phòng học đa năng Trường ĐH Giao Thông Vận Tải , số 3 Cầu Giấy, Hà Nội
– Cơ sở 2: Phòng học đa năng – Phòng 402, Tòa 72C Nguyễn Khang, Cầu Giấy, Hà Nội

Học phí toàn Khóa học: 1.800.000 VNĐ (đã bao gồm phí tài liệu, phí cấp chứng chỉ, quyền thực hành trên ứng dụng STM 30 ngày)
Dành tặng ưu đãi HẤP DẪN cho các Anh/chị “Nhanh Tay” đăng ký trước ngày 12/5:
– Giảm 10% với Người đã đi làm: Học phí chỉ còn 1.600.000 VNĐ
– Giảm 20% với Sinh viên: Học phí chỉ còn 1.450.000 VNĐ

Nhanh tay đăng ký:
– Cách 1: Đăng ký qua link và chuyển khoản:
https://docs.google.com/…/1FAIpQLSdwz0f5fz4KRAMuQk…/viewform
– Cách 2: Đăng ký và thanh toán trực tiếp tại: P.402, 72C Nguyễn Khang, Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội
– Cách 3: Đăng ký online qua Fanpage: Viện Quản trị logistics và chuỗi cung ứng Edins và chuyển khoản:
https://www.facebook.com/edinsedu/ (inbox cho page)
– Cách 4: Liên hệ qua HOTLINE: 0914 902 169
– Cách 5: Đăng ký qua Website của viện: https://edins.edu.vn

Thông tin chuyển khoản học phí qua ngân hàng:
-Công ty cổ phần tư vấn đào tạo và đầu tư phát triển EDINS
-Số tài khoản: 118-000-167-912
-Ngân hàng Vietinbank Chi nhánh TP Hà Nội
-Nội dung chuyển khoản: Nguyễn Văn A – Đăng ký khóa học STM Hà Nội

 

Xây dựng thành công “Giám sát toàn diện vận tải” (control center) trong chuỗi cung ứng mang lại nhiều lợi ích lớn. Khi nhìn vào những doanh nghiệp lớn hay những chuỗi cung ứng toàn cầu, ta sẽ thấy rõ sự phù hợp của giải pháp này; và thiết nghĩ cũng rất nên dành thời gian xem họ vận hành như thế nào.

Giám sát toàn diện vận tải có thể làm được gì để hỗ trợ bạn vận hành chuỗi cung ứng?

Nucleus Research vừa công bố Ma trận Giá trị Giám sát toàn diện vận tải 2017 (Control Tower Value Matrix 2017). Với ma trận này, ta có thể thấy một cách chi tiết hiện trạng vận hành và các giá trị của giải pháp này mang lại cho doanh nghiệp.

Nghiên cứu này phân loại các giải pháp dựa trên chức năng của chúng, rồi từ đó xây dựng một ma trận hỗ trợ đánh giá các giải pháp giám sát toàn diện vận tải hiện có trên thị trường.

Vậy Giám sát toàn diện vận tải là gì?

Trong Ma trận Giá trị Giám sát toàn diện vận tải 2017 của Nucleus Research, giám sát toàn diện vận tải (gọi tắt là giám sát vận tải) có thể được hiểu là công cụ “cung cấp khả năng hiển thị (visibility)… và nhiều tính năng hỗ trợ khác như phối hợp các bên, tự động hoá quy trình và nâng cao khả năng kiểm soát.”

Giám sát toàn diện vận tải là một phạm trù khá rộng. Trong những năm gần đây, giải pháp này phát triển một cách nhanh chóng và hiện nay, thị trường các loại giải pháp này rất đa dạng. Ma trận Giá trị Giám sát toàn diện vận tải đã tiến hành phân loại tất các giải pháp giám sát toàn diện vận tải hiện có – từ 13 nhà cung cấp dịch vụ phần mềm khác nhau.

Các loại Giám sát toàn diện vận tải trong chuỗi cung ứng

Tầm nhìn

Ở mức cơ bản nhất, giám sát toàn diện vận tải có thể cho ta thấy được bức tranh chuỗi cung ứng toàn cầu (hoặc gần như toàn cầu).

Ban đầu, giải pháp ra đời với mong muốn nắm bắt được bức tranh chuỗi cung ứng – một bức tranh ngày càng phân mảnh và phức tạp. Giải pháp này đã nổ lực xây dựng niềm tin giữa các bên, vượt qua các rào cản giữa phòng ban với phòng ban, và giữa doanh nghiệp với đối tác – nhà cung cấp, nhà sản xuất, các hãng vận tải và 3PL.

Tuy nhiên, tầm nhìn không thì vẫn chưa đủ? Với tầm nhìn mà giám sát toàn diện vận tải cho ta, ta vẫn chưa thể giải quyết được vấn đề.

Khả năng chủ động

Vì lý do trên mà giám sát vận tải đã được phát triển lên mức cao hơn – trở thành một công cụ hỗ trợ nhà quản lý chuỗi cung ứng không chỉ có thể theo dõi, mà còn có thể can thiệp và giải quyết các vấn đề phát sinh. Mặc dù vậy, khả năng này chỉ được giới hạn trong một vài phần xác định của chuỗi cung ứng. Đó thường là những phần được kiểm soát trực tiếp bởi một doanh nghiệp duy nhất.

Hợp tác

Ở một bước phát triển cao hơn, giám sát vận tải hướng tới năng lực liên kết các tổ chức trong chuỗi cung ứng, từ khách hàng, nhà cung cấp, đến nhà cung ứng dịch vụ logistics. Theo đó, nhà quản lý chuỗi cung ứng sẽ có thể giải quyết được nhiều vấn đề không chỉ ở phạm vi trực tiếp quản lý của họ mà còn rộng ra toàn chuỗi cung ứng.

Tự động hóa

Hiện tại, giám sát toàn diện vận tải đã tự động hóa được một số tính năng mà trước đây con người phải thực hiện. Ví dụ, khi tồn kho đạt một giá trị định trước, hệ thống sẽ tự động xuống đơn hàng. Tất nhiên, vẫn còn nhiều nghiệp vụ khác có thể tự động hóa được, và khi tự động hóa thành công, nhà quản lý sẽ có thêm thời gian cho những việc khác mang lại nhiều giá trị hơn.

“Nhờ vào tự động hóa, nhà quản lý chuỗi cung ứng sẽ có nhiều thời gian hơn để giải quyết các vấn đề quan trọng thay vì các vấn đề linh tinh mỗi ngày.” (Ma trận Giá trị Giám sát toàn diện vận tải 2017, Nucleus Research)

Giải pháp giám sát toàn diện vận tải làm được gì cho bạn?

Sự khác biệt giữa mô hình hub-spoke và mô hình mạng nhiều bên

 

Kết hợp tất cả những điều kể trên, lợi ích mà giải pháp này đem lại cho doanh nghiệp là vô cùng lớn.

Nhiều công ty hiện vẫn đang phải vật lộn để có được một bức tranh toàn cảnh về chuỗi cung ứng của họ. Tất nhiên, giám sát toàn diện vận tải có thể làm được điều đó và còn nhiều hơn thế nữa.

Tùy vào từng mức độ, từ tầm nhìn, năng lực chủ động, hợp tác, đến tự động hóa, các giá trị lợi ích mà giám sát vận tải mang lại là khác nhau. Tuy nhiên, ở mức độ cao hơn, tiềm năng của giải pháp này phụ thuộc vào nền tảng mà nó được xây dựng.

Trong bài Sự bùng nổ của Giải pháp giám sát Chuỗi cung ứng (The Rise of Supply Chain Towers), các hạn chế của giải pháp giám sát vận tải truyền thống được xây dựng dựa trên mô hình hub-spoke truyền thống đã được giải thích. Ở đây, ta không bàn nhiều đến điều đó, chỉ cần một lưu ý nhỏ, mô hình này bị hạn chế về năng lực “tầm nhìn toàn cảnh” và khả năng tối ưu hóa do sự rời rạc của hệ thống. Khá là phức tạp để kết nối và bảo trì các kết nối này giữa những hệ thống độc lập.

Các giải pháp giám sát toàn diện vận tải mới được xây dựng trên nền tảng dữ liệu thời gian thực (real-time data) với sự tham gia của nhiều bên hữu quan sẽ giúp ta giảm chi phí, tăng tốc độ, có khả năng linh hoạt và phục hồi cao hơn.

“Nucleus nhận thấy rằng: giải pháp giám sát toàn diện vận tải có thể làm giảm các rủi ro cho doanh nghiệp áp dụng thành công  thông qua việc cải thiện tầm nhìn, sự hợp tác, và tối ưu hóa.” – Giá trị thực của mạng giá trị (The Real Value of Value Networks), 04/2017, Nucleus Research

Giải pháp thời gian thực loại bỏ sự chậm trễ của thông tin; cung cấp “tầm nhìn” từ đầu đến cuối và tối ưu hóa tốt hơn nhờ các dữ liệu được cập nhật liên tục và toàn cảnh, thể hiện được thực tế vận hành. Giải pháp này còn cung thông tin hỗ trợ ra quyết định, với các dữ liệu thực về đơn hàng, hàng tồn kho, hàng giao, và các ràng buộc về năng lực sản xuất ở tất cả các nút trong mạng lưới.

Giám sát toàn diện vận tải được xây dựng trên nền tảng mạng nhiều bên, mang lại giá trị lớn hơn so với các giải pháp được xây dựng trên nền tảng truyền thống (bị giới hạn trong hệ thống của một doanh nghiệp). Khi khảo sát 30 khách hàng với giải pháp mới, Nucleus Research thấy các doanh nghiệp này đạt được nhiều lợi thế cạnh tranh hơn như:

  • Tăng vòng xoay hàng tồn kho thêm từ 10% đến 75%, trung bình 56%
  • Giảm giảm mức tồn kho an toàn từ 10%-55%, trung bình 38%.
  • Giảm 15-90% trường hợp thiếu hụt tồn kho và nguyên liệu, trung bình khoảng 76%
  • Giảm trung bình 54% chi phí khẩn cấp (expedite costs)

Vì vậy, ta có thể khẳng định giải pháp giám sát toàn diện vận tải trên nền tảng mạng nhiều bên mang lại lợi ích lớn hơn và sự phù hợp cao của giải pháp này với các chuỗi cung ứng toàn cầu phức tạp. Nghiên cứu Ma trận Giám sát toàn diện vận tải của Nucleus Research đã phân loại các giải pháp hiện có trên thị trường từ nhiều nhà cung cấp, kết quả này rất đáng được cân nhắc ứng dụng cho chuỗi cung ứng của bạn./.

Nguồn: supplychain247.com

Mô hình phân phối hub and spoke là một hình thức tối ưu hoá mạng lưới vận tải, trong đó các tuyến vận tải được tổ chức như là một loạt các “spoke” kết nối các điểm xa với một “hub” trung tâm. Các hình thức đơn giản của mô hình phân phối / kết nối này có thể đối lập với các hệ thống vận tải từ điểm đến điểm (point-to-point), trong đó mỗi điểm đều có tuyến đường trực tiếp tới mọi điểm khác, và đó là phương pháp chính để vận chuyển hành khách và hàng hóa cho đến những năm 1970. Mô hình phân phối hub and spoke được phát triển bởi Delta Airlines năm 1955 và đã cách mạng ngành công nghiệp vận tải logistics sau khi Federal Express minh chứng cho giá trị của khái niệm này vào đầu những năm 1970.

 

Trong quá khứ, ngành vận tải và phân phối được thực hiện theo các nguyên tắc của các hoạt động điểm đến điểm (point-to-point) hay còn gọi là định tuyến trực tiếp. Khi công nghệ phát triển, lĩnh vực logistics đã tìm ra cách vận chuyển hàng hóa nhanh hơn và tiết kiệm chi phí hơn. Mô hình hub and spoke được sinh ra từ những nỗ lực của ngành trong việc phát triển các mạng lưới hiệu quả hơn.

Để hiểu rõ hơn về mô hình hub and spoke, hãy tưởng tượng một bánh xe đạp phức tạp, với “hub” (trung tâm) như là một tâm điểm chiến lược của mạng, và các “spoke” (thanh ray) phát ra để kết nối nó với các điểm từ xa. Chức năng của các hub and spoke khác nhau tùy theo ngành công nghiệp.

 

Trong những năm gần đây, các công ty vận tải đã áp dụng mô hình hub and spoke để tăng tốc độ giao hàng và giảm chi phí.

 

Sử dụng mô hình này, các chuyến vận chuyển thu thập hàng hóa từ điểm ban đầu (các đầu của spoke) và vận chuyển nó trở lại một cơ sở xử lý trung tâm (hub). Các lô hàng sau đó hoặc được lưu trữ, hoặc được phân phối trực tiếp từ trung tâm của mạng lưới. Các công ty quy mô lớn vận hành rất nhiều hệ thống hub and spoke.

 

Một ưu điểm của mô hình hub and spoke là nó đã cải thiện việc theo dõi lô hàng. Khi các gói hàng được vận chuyển trực tiếp từ thành phố nguồn, có quá nhiều tuyến đường kết nối chúng tới một mạng lưới rộng lớn các thành phố khác. Theo dõi việc vận chuyển trong một hệ thống phức tạp như vậy sẽ là một cơn ác mộng trong logistics.

 

Hơn nữa, vì cần có sự phối hợp tập thể giữa các thành phố, các công ty sẽ cần phải chi tiền cho nhân viên và trang bị cho từng cơ sở. Với mô hình hub and spoke, họ chỉ cần lo lắng cho một trung tâm vận hành logistics duy nhất.

Cụ thể, các công ty xe tải tư nhân sử dụng mô hình hub and spoke để sử dụng một nhóm các lái xe và xe tải không chuyên dụng trên diện rộng. Các tài nguyên không chuyên dùng có thể được sử dụng theo những cách khác cho đến khi khách hàng trong khu vực đó yêu cầu dịch vụ của họ.

 

Các công ty như Federal Express, UPS, Norfolk Southern và Yellow Freight đã áp dụng thành công mô hình phân phối hub và spoke để đạt được lợi thế cạnh tranh về logistics. Họ đã nhận thấy rằng mô hình phân phối này làm giảm chi phí vận chuyển, cải thiện thời gian chu kỳ và giảm hàng tồn kho. Các công ty này và nhiều công ty khác hiện đang nhận ra rằng tiết kiệm đáng kể về mặt chi phí có thể là kết quả của việc cải thiện quy trình phân phối.

 

Mạng lưới hub and spoke là một hệ thống logistics tích hợp tập trung, được thiết kế để giảm chi phí. Các trung tâm phân phối hub and spoke nhận các sản phẩm từ nhiều nguồn khác nhau, gom các sản phẩm, và gửi trực tiếp đến nơi giao hàng cuối cùng.

 

Các nghiên cứu cho thấy rằng chi phí logistics chiếm từ 10-35% tổng doanh thu của các công ty. Và 60% chi phí logistics thuộc về vận chuyển hàng hoá . Một nghiên cứu của công ty tư vấn PRTM cho thấy các công ty được coi là các tổ chức thực hành tốt nhất trong việc đưa sản phẩm ra thị trường có lợi thế về chi phí chuỗi cung ứng 45% so với trung bình một đối thủ cạnh tranh khác của họ.

 

Một ví dụ điển hình về vận hành mô hình phân phối Hub and Spoke ngay từ lúc nó mới xuất hiện là trường hợp của công ty Lowe,

 

Lowe’s Home Improvement Warehouse

Lowe’s đã áp dụng mô hình phân phối hub and spoke, cho phép công ty giành được một phần lớn thị phần trong thị trường cải tiến nhà cửa. Các nhà phân tích nhận xét rằng chiến lược trung tâm phân phối của Lowe đã cho phép công ty có được lợi thế cạnh tranh .

 

Chiến lược trung tâm phân phối của Lowe

Lowe quyết định triển khai mô hình phân phối hub and spoke để khuyến khích tăng trưởng nhằm đạt được thị phần và đạt được mức lợi nhuận cao hơn. Lowe đã thiết lập mạng lưới 9 trung tâm phân phối cho 850 cửa hàng hiện tại. Mỗi trung tâm phân phối được thiết kế để phục vụ khoảng 100 đến 125 cửa hàng. Lowe dự định mở hơn 100 cửa hàng mỗi năm trong một vài năm tới, do đó, một trung tâm phân phối mới sẽ mở mỗi năm.

 

Trung tâm phân phối của một Lowe chứa gần 93 triệu mét vuông (khoảng trống cho gần 30 sân bóng đá), với gần 13.00m băng tải, và có kệ lưu trữ cao hơn 9m. Các trung tâm phân phối này nhận các xe tải lớn từ các nhà cung cấp. Các sản phẩm được quét bằng mã vạch và sau đó được đặt tại một vị trí cụ thể trong kho. Khi sản phẩm đã sẵn sàng để vận chuyển, hệ thống băng chuyền và mã vạch sẽ tự động đưa chúng đến các xe tải. Có hơn 100 chuyến xe tải trên một trung tâm phân phối. Mỗi cửa hàng mà trung tâm phân phối phục vụ nhận được từ hai đến tám xe tải hàng tuần.

 

Chi phí xây dựng của mỗi trung tâm phân phối của Lowe là 45 triệu đến 75 triệu USD. Lowe giải thích rằng những chi phí trả trước cao dẫn đến chi phí thấp hơn do các nhà cung cấp tính và dẫn đến kiểm soát hàng tồn kho chặt chẽ hơn. Lowe cho biết họ nhận được khoản tiết kiệm từ 5 đến 10 phần trăm cho chi phí của mỗi sản phẩm. Theo kết quả của mô hình hub and spoke, phân phối hiện chỉ chiếm 3% chi phí tồn kho của công ty, giảm xuống từ con số 5% –  6% vào năm 1994. Điều này ưu thế hẳn so với trung bình trong ngành từ 3%-8%, mạng lại tiết kiệm chi phí đáng kể cho một công ty với 22 tỷ USD doanh thu hàng năm. Colin McGranahan, một nhà phân tích của Sanford Bernstein, đặt hệ thống phân phối của Lowe vào danh sách hàng đầu trong “top 25% các nhà bán lẻ về năng lực phân phối của họ”.

 

Hiện tại, hơn 50% hàng tồn kho của công ty di chuyển qua các trung tâm phân phối. Các nhà điều hành của Lowe nhắm tới mục tiêu bổ sung hàng tồn kho vào mạng lưới trung tâm phân phối của họ, đưa nhiều xe tải hơn đến từng cửa hàng thường xuyên hơn.

 

Quyết định của Lowe vào đầu những năm 1990 sử dụng mô hình phân phối hub and spoke đã cho phép công ty này đạt được lợi thế cạnh tranh đáng kể. Với thị trường thế giới liên tục thay đổi, các công ty phải có nhiều vị trí tìm nguồn cung ứng, nhiều phương thức vận chuyển và mạng lưới phân phối linh hoạt và hiệu quả về chi phí. Mạng lưới hub and spoke cho phép các công ty tập trung hóa mạng lưới phân phối của mình và trở nên hiệu quả hơn trong việc kiểm soát luồng sản phẩm trên toàn bộ doanh nghiệp của họ, đồng thời tiết kiệm đáng kể chi phí.

 

——

Nguồn: Smartlog tổng hợp từ Wikipedia, Inbound Logistics và khoa Quản trị chuỗi cung ứng của trường NC State University

Một mạng lưới các cụm (cluster) logistics được kết nối cao có thể đóng vai trò quan trọng trong việc đạt được mục tiêu của Liên minh châu Âu là tạo ra một hệ thống vận tải hàng hóa bền vững và hiệu quả hơn. Một sáng kiến ​​nghiên cứu được EU hậu thuẫn gọi là Clusters 2.0 đang đặt nền móng cho một mạng lưới như vậy bằng cách phát triển cách kết nối các trung tâm vận tải qua mạng lưới Internet.

(more…)

Trong khi sự tăng trưởng đang chậm lại ở các thị trường tiêu dùng, thì sự cạnh tranh lại ngày càng tăng lên và vòng đời sản phẩm đang được đẩy nhanh. Giờ đây, các công ty lại có thêm áp lực tăng ngân sách và tăng trưởng mục tiêu thông qua sự kết hợp giữa mua lại, đổi mới sản phẩm và công nghệ kỹ thuật số.

(more…)

Các doanh nghiệp thực phẩm và nước giải khát có chuỗi cung ứng phức tạp với nhiều đặc thù: thị hiếu của khách hàng luôn thay đổi, tỷ suất lợi nhuận thấp, sản phẩm tươi, dễ hư hỏng, ngày hết hạn sử dụng sản phẩm và hơn thế nữa.

 

Có được đúng khối lượng sản phẩm vào đúng thời điểm, và ở đúng vị trí, không phải là một nhiệm vụ dễ dàng.

 

Khả năng hiển thị (visibility) và sự kiểm soát các quy trình chuỗi cung ứng sẽ cho phép các doanh nghiệp thực phẩm và nước giải khát giải quyết những thách thức này trong khi đạt được các mục tiêu kinh doanh.

 

Quản lý vận chuyển hàng hóa đầu vào tốt, điều mà thường xuyên bị bỏ sót và thường xuyên không được ưu tiên chương trình chuỗi cung ứng của một chủ hàng, có thể giúp các công ty cải thiện Khả năng hiển thị (visibility) của lô hàng, tiết kiệm tiền và nâng cao dịch vụ khách hàng – tất cả đều làm tăng lợi nhuận.

 

Nếu triển khai đúng, quản lý vận chuyển hàng hóa đầu vào không chỉ giúp các công ty hiểu rõ hơn về vị trí hàng hóa của họ trong thời gian thực.

Nó cũng mang lại cho họ các mối quan hệ tốt hơn với các nhà chuyển chở và nhà cung cấp trong nỗ lực gom các chuyến hàng (consolidation), thiết lập các hướng dẫn định tuyến mà có thể mang lại hiệu quả sử dụng bến (dock) tốt hơn và thúc đẩy các sáng kiến ​​cải tiến liên tục.

 

Các công ty thực phẩm và nước giải khát có hàng chục chuyến hàng ngày từ các nhà cung cấp khác nhau. Tuy nhiên, những chuyến hàng gửi đến này không được phối hợp hoặc gom lại với nhau, điều này làm tăng lên quá mức số lượng các chuyến hàng nhận trong ngày.Có quá ít khả năng hiển thị (visibility) đối với thời điểm hàng đến và sự thay đổi thường xuyên đối với các chuyến hàng đến sẽ gây ra sự cố ở bến (dock) và kho hàng, có thể khiến chi phí nhập kho tăng vọt và chi phí vận chuyển hàng hóa đầu vào của bạn vượt quá ngân sách.

 

Các công ty thực phẩm và đồ uống từ lớn đến nhở có thể dựa vào Hệ thống Quản lý Vận tải (Transportation Management System – TMS) là công cụ hoàn hảo để giải quyết nhiều thách thức đi kèm với việc quản lý vận chuyển hàng hóa đầu vào.

 

Ví dụ, một nhà bán lẻ thực phẩm hoạt động trên 200 cửa hàng ở 7 tiểu bang ở Mỹ có hàng trăm chuyến hàng LTL mỗi tuần, nhưng bằng cách sử dụng Hệ thống Quản lý Vận tải (Transportation Management System – TMS), họ đã có thể giảm số lượng chuyến hàng giao đến còn 20 hoặc 30 mỗi tuần bằng cách kết hợp các chuyến hàng LTL thành các chuyến FTL từ các điểm tập kết hàng nhờ có sự tích hợp thông tin chuyến hàng và sự cộng tác từ các nhà vận tải và nhà cung cấp. Chi phí điển hình cho việc dỡ hàng là 200 đô la, điều này nghĩa là họ tiết kiệm khoảng 34.000 đô la mỗi tuần chỉ trên chi phí bốc dỡ!

 

Dưới đây là ba bước bạn có thể thực hiện để bắt đầu quản lý vận chuyển hàng hóa đầu vào của mình ngày càng hiệu quả hơn:

  1. Hợp tác với các nhà cung cấp để lên kế hoạch hoạt động

Xác định cách hiệu quả và hiệu năng nhất để vận chuyển và dỡ hàng hóa của bạn, và xây dựng một kế hoạch với các nhà cung cấp để có lợi cho cả hai bên. Không áp đặt một con số tỷ lệ lô hàng nào phải được nhà cung cấp kiểm soát và lô hàng nào phải được khách hàng kiểm soát. Hãy cho nhà cung cấp của bạn một sự lựa chọn để họ có thể chọn dịch vụ và thủ tục thanh toán hiệu quả nhất. Sau đó, áp dụng một hướng dẫn định tuyến chuẩn để các nhà cung cấp tuân thủ.

 

Điều này sẽ thiết lập một hướng dẫn bắt buộc sẽ được sử dụng cho tất cả các lô hàng do nhà cung cấp kiểm soát (vendor-controlled shipment – VDS) và lô hàng nào là khách hàng nhận (customer pick-up shipment – CPU). Các chương trình tuân thủ của nhà cung cấp làm giảm chi phí hàng hóa của bạn bằng cách làm cho nhà vận chuyển và nhà kho của bạn hiệu quả hơn. Trong trường hợp nhà cung cấp của bạn không tuân thủ, họ sẽ chia sẻ chi phí của bạn thông qua các vi phạm được nêu trong hướng dẫn định tuyến.

 

  1. Tạo liên kết chặt chẽ với các nhà cung cấp của bạn

Gom các chuyến hàng đến thành FTL khi có thể để giảm chi phí vận chuyển hàng hóa và dỡ hàng. Giảm số lượng các chuyến hàng LTL riêng lẻ sẽ giảm chi phí vận chuyển, tăng đáng kể hiệu quả của trung tâm phân phối và giảm đáng kể chi phí dỡ hàng. Hãy suy nghĩ xem vận hành của bạn sẽ hiệu quả hơn đáng kể như thế nào với ít xe tải và ít chuyến giao hàng hơn. Ví dụ: bốc hàng từ 10 đến 14 lô hàng LTL khác nhau có thể tốn chi phí gấp 5 lần so với bốc dỡ một xe tải. Khách hàng và nhà cung cấp có thể chia sẻ tất cả những khoản tiết kiệm này thông qua hiệu quả của các lô hàng được gom và các đầu kéo.

 

Bằng gom các chuyến hàng LTL, bạn có thể đơn giản hóa việc quản lý sân bãi và tối đa hoá các cơ hội gom hàng. Hãy chọn các nhà vận tải với mức giá hấp dẫn và dịch vụ cao cấp và cố gắng giới hạn từ hai đến bốn nhà vận tải khác nhau, cho dù lô hàng là CPU hay VDS. Điều này sẽ cung cấp cho mỗi nhà vận tải đủ sản lượng để đảm bảo gom các lô hàng LTL mà không ảnh hưởng đến mức độ dịch vụ.

 

  1. Tận dụng công nghệ để tăng lợi thế của bạn

Sử dụng Hệ thống Quản lý Vận tải (Transportation Management System – TMS) để tối ưu hóa việc quản lý vận chuyển hàng hóa đầu vào của bạn là một khả năng.

TMS cũng sẽ tự động theo dõi, lên kế hoạch và phân bổ cửa bến/kho, điều này sẽ trực tiếp làm giảm chi tiêu cho lao động của bạn. Thực sự là, nếu bạn không thể đo lường được điều gì đó thì khó có thể cải thiện nó. Một TMS có hiệu quả sẽ nắm bắt tất cả các phần dữ liệu có liên quan và trả về các báo cáo, bảng điều khiển và thẻ điểm (scorecard) cho phép bạn phân tích chương trình vận chuyển hàng hóa hàng đến và xác định cơ hội để tăng hiệu quả.

 

Cuối cùng, quản lý vận chuyển hàng hóa đầu vào trở nên thuận lợi nhờ công nghệ này, giúp các chủ hàng đạt được các mục tiêu về chi phí và năng suất mà thường bị bỏ qua trong logistics.

 

Bằng cách nhìn lại để hiểu rõ hơn về môi trường hàng hóa đầu vào của bạn – sau đó làm việc với các nhà vận tải và nhà cung cấp để đưa ra một kế hoạch hành động để cải tiến nó – bạn sẽ có thể tận dụng hết năng lực của thị trường, có được giá cước tốt nhất và đạt được khả năng hiển thị (visibility) tốt hơn trong chuỗi cung ứng từ điểm đầu đến điểm cuối của bạn.

 

——

Nguồn: Supply Chain 247

Các xu hướng chuỗi cung ứng năm 2018 cho thấy rằng các công ty sẽ phải cải thiện trải nghiệm của khách hàng và tăng cường mong đợi của khách hàng để xác định lại vị trí thương hiệu của họ. Khách hàng và thị trường được dự báo ​​sẽ thay đổi cùng với sự chuyển đổi sang logistics kỹ thuật số và minh bạch. (more…)

Sự phát triển nhanh chóng của thương mại điện tử và kỳ vọng của người tiêu dùng lúc nào cũng thay đổi nhanh chóng đòi hỏi các công ty phân phối phải suy nghĩ và hành động sáng tạo. Để giành chiến thắng trong thị trường giao hàng chặng cuối (final mile hay last-mile delivery), các hãng vận tải không chỉ cần phải xử lý sản lượng cao đột biến, mà còn phải làm cho tốt việc giao hàng cùng ngày, theo yêu cầu và giao hàng vào ban đêm. Làm thế nào các công ty phân phối có thể tận dụng tối đa những xu hướng này trong khi bảo vệ thị phần của họ khỏi những doanh nghiệp mới gia nhập? Chúng tôi tin rằng câu trả lời nằm ở crowdsourcing.

(more…)

Vậy là một cái Tết nữa lại đến … bạn đã sẵn sàng cho sự bề bộn của năm mới Mậu Tuất chưa? Lễ hội năm mới thực sự kéo dài trong hai tuần và bắt đầu tăng tốc trước những ngày giáp Tết. Sẽ không có thời gian để lãng phí nếu bạn chưa bắt đầu lên kế hoạch cho năm nay.

(more…)

Hai trong số các công ty nghiên cứu và tư vấn có ảnh hưởng nhất trên thế giới dự đoán sự tăng nhanh về việc sử dụng trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence – AI) khi nhiều doanh nghiệp tìm cách tăng cường chuyển đổi kỹ thuật số. Forrester dự đoán rằng AI tăng gấp ba lần vào năm 2017, và Gartner dự kiến AI sẽ trở nên phổ biến trong hầu hết các sản phẩm và dịch vụ phần mềm mới vào năm 2020. Với giao diện nhận thức, phân tích chuyên sâu và công nghệ máy học (machine learning, một số báo dùng từ máy học), AI cung cấp cho người dùng doanh nghiệp vận hành trong các hệ thống phức tạp và các mạng lưới năng động với trí thông minh mạnh mẽ và khả thi để thúc đẩy quá trình ra quyết định nhanh hơn. (more…)

Tăng cường kết hợp kỹ thuật số (digital matching)

Có một sai lầm lớn trong quan niệm về nền kinh tế tương lai dựa trên sự “chia sẻ” hoặc “cộng tác”. Các công ty như Airbnb và Uber không chia sẻ tài sản của họ – họ thực hiện nhiệm vụ mạnh mẽ và có lợi nhuận phù hợp với nhu cầu. Họ làm điều đó một cách chính xác hơn ở quy mô nhỏ hơn và tốt hơn so với các công ty truyền thống và họ trao đổi dịch vụ và nhận thanh toán. Trong một thế giới tràn ngập các lựa chọn, giá trị đã chuyển từ cửa hàng bách hóa truyền thống  nơi “các lựa chọn có sẵn” sang việc “giúp khách hàng tự ra quyết định lựa chọn nào là tốt nhất với họ.”

 

Quan sát 7: Các thủ tục giấy tờ trong vận chuyển sẽ tự động hóa

Amazon vẫn tiếp tục mục tiêu đầy tham vọng của mình là trở thành ông vua của hoạt động giao hàng. Công ty đã lặng lẽ tập trung chuyên môn vào việc kết hợp nguồn cung và nhu cầu về vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ đường biển, nơi mà công ty đã tạo ra các ứng dụng được dự kiến sẽ ​​tạo ra làn sóng hiệu quả. Hiện tại, ứng dụng vận tải đường bộ, Relay, cho nhà vận tải thấy vị trí của hàng hóa, nó cũng cho thấy hứa hẹn của tự động hoá các thủ tục giấy tờ, mà hiện đang rất phụ thuộc vào điện thoại và giấy. Các nhà quản lý thông minh sẽ cần dõi theo các giải pháp tự động hóa, cho dù từ Amazon hay một từ số nhà đổi mới khác.

 

Quan sát 8: Kỹ thuật số sẽ cần năng lượng bằng Pin

Các tác động môi trường của hoạt động của các cảng và vận tải sẽ nhận được sự quan tâm mới. Ở Mỹ, tác động gây ô nhiễm của vận chuyển gần đây đã vượt quá giá trị tiện ích của chúng, trở thành “kẻ gây ô nhiễm lớn nhất”. Một hộp nguồn Pandora rẻ hơn, thông minh hơn đã vượt qua được khó khăn về công nghệ – và kết quả sẽ là một cuộc cách mạng khi mọi người tìm cách tận dụng những hiệu quả mới này. Trung Quốc đã phóng một con tàu chạy bằng pin mà trước đó từng chạy bằng than đá. Tesla đang nói về xe tải chạy bằng pin mặc dù các nhà sản xuất xe tải khác có thể định vị tốt hơn. Vấn đề là các công ty lâu đời đã chấp nhận năng lượng sạch hơn. Sẽ có ý nghĩa nếu bạn chi tiêu ít tiền vào đầu vào mà sau đó sẽ chuyển thành bồ hóng và CO2 – các sản phẩm không có giá trị. Các dịch vụ kết hợp kỹ thuật số (digital matching) sẽ cung cấp cho chủ hàng nhiều lựa chọn hơn để chọn phương tiện vận tải “xanh”, thậm chí cả những chiếc không chạy bằng pin. Các nhà quản lý thông minh sẽ cần quan sát các lựa chọn xanh hơn, tạo ra ý nghĩa tài chính và hoạt động trong trung hạn.

 

Quan sát 9: Bạn luôn bị quan sát

Xu hướng hội nhập điện tử tổng thể sẽ gia tăng đáng kể bởi đơn giản vì có quá nhiều lợi ích cho xã hội nên không thể không tăng đầu tư vào internet vạn vật (IoT – internet of things) và nền kinh tế kỹ thuật số. Đó là cách duy nhất mà các nền kinh tế phát triển có thể cạnh tranh toàn cầu, và các quốc gia đang phát triển tìm cách đẩy nhanh sự cân bằng của họ. Một số ví dụ bao gồm ELD (thiết bị đăng nhập điện tử – electronic logging devices) cho vận tải đường bộ của Hoa Kỳ và “các cảng thông minh”. Các công ty có thể sẽ phải trả chi phí ngắn hạn nhưng nhiều lợi ích đối với an ninh, môi trường và lợi nhuận cho thấy rằng không hành động có thể là rủi ro lớn nhất. Đây cũng là một cách mạnh mẽ để ngành công nghiệp hội nhập và phối hợp với các công ty mang lại hiệu quả nhất đối với họ, thay vì phụ thuộc vào các quy trình chính trị dễ bốc hơi để xây dựng các hiệp định thương mại toàn cầu. Các nhà quản lý thông minh sẽ tích cực tham gia vào các sáng kiến ​​tư nhân cũng như các nhóm thương mại ngành công nghiệp – các công ty thành công sẽ nắm lấy thế giới mới của sự hội nhập. Những người cởi mở nhất đối với sự minh bạch có thể sẽ ít bị chú ý nhất.

 

Quan sát 10: Đừng chần chừ

Logistics toàn cầu và tuân thủ thương mại từ lâu nay vốn dựa vào sự bảo thủ nhắm có được sự ổn định. Một nền văn hoá tập trung vào truyền thống và các quy tắc đã mang lại sự ổn định khi đối mặt với những thay đổi chính trị, kinh tế và xã hội. Tuy nhiên công nghệ đã làm thay đổi tình thế – các nhà lãnh đạo ngành phải tích cực tham gia để thiết lập các quy tắc và truyền thống mới cho cách thức các công ty tương tác với các công ty khác, các chính phủ và các tổ chức liên chính phủ. Các công ty trì hoãn việc hiện đại hóa sẽ có nguy cơ không còn thích ứng nữa.

 

Phạm vi và độ rộng trong sự thay đổi trong cửa hàng sẽ khiến nhiều nhà quản lý bị ngợp. Các nhà lãnh đạo chuỗi cung ứng sẽ phải toàn tâm – và thông minh – khi mua vào các giải pháp dựa trên công nghệ. Những người quá sợ nguy cơ mắc sai lầm và bắt đầu lại sẽ bị bỏ lại phía sau vì làn sóng công nghệ mới đòi hỏi phải có các giải pháp cùng học tập và đồng sáng tạo. Thực vậy, bây giờ chính là thời điểm chuyển đổi sang kỹ thuật số!

 

Phần 1: Tạo thuận lợi cho sự tham gia thương mại

Phần 2: Giảm sự không chắc chắn

——

Nguồn: Supply Chain Management Review

Bài báo trình bày những phát hiện của nghiên cứu định tính từ UPS, cùng với một cuộc khảo sát trực tuyến được thực hiện bởi GreenBiz vào tháng 6 năm 2017. Xem phần 1 tại đây.

3.Tác động của thương mại điện tử và nhu cầu quy hoạch lớn hơn

Những thách thức của tình trạng ô nhiễm và ùn tắc giao thông đang gia tăng ngày càng trở nên phức tạp do sự gia tăng của kinh doanh B2C hay thương mại điện tử (e-commerce). MIT Winkenbach ghi nhận rằng: “Đô thị hoá thường đi cùng với sự gia tăng trung bình sự giàu có của một thành phố. Khách hàng đô thị có xu hướng đặt hàng trực tuyến nhiều hơn và những hàng hoá đó được vận chuyển trực tiếp đến người đó thay vì được đưa đến cửa hàng bán lẻ. Sự thịnh vượng ngày càng tăng cũng đi cùng với kỳ vọng tăng lên về mức độ dịch vụ.”

Điều này tạo ra một mâu thuẫn bởi vì hoạt động logistics trở nên phức tạp, tốn kém và khó kiểm soát. Trong khi đó khách hàng yêu cầu các lựa chọn giao hàng nhanh hơn, đáng tin cậy hơn và linh hoạt hơn. Sự gia tăng các giao dịch thương mại điện tử (e-commerce) đang tạo ra sự gia tăng số lượng các gói hàng cần được giao mà nếu không được hỗ trợ bởi các hoạt động logistics bền vững thì có thể tạo ra nhiều xe hơn trên đường và tăng tắc nghẽn và phát thải.

Những người tham gia khảo sát được hỏi về mức độ gia tăng của thương mại điện tử (e-commerce), sự đô thị hóa và sự tắc nghẽn ngày càng tăng lên ảnh hưởng như thế nào đến cách họ kinh doanh tại các thành phố. Điều này rõ ràng là một vấn đề, vì 81% công ty phản hồi nhận thấy một số hình thức tác động đến kinh doanh của họ.

Song song đó, có sự gia tăng các nhà khai thác dịch vụ nhỏ hơn và thậm chí các dịch vụ xe hơi theo yêu cầu, như Uber, xử lý các chuyến hàng một cách không hợp nhất và không hiệu quả. Điều đó có thể dẫn đến sự gia tăng số lượng xe chưa đủ tải di chuyển trên đường phố, gây ô nhiễm và ùn tắc. Thông thường, các công ty phân phối nhỏ hơn, theo yêu cầu thiết kế các quy trình logistics và mạng lưới phân phối dựa trên tính phản hồi năng động thay vì tính hiệu quả. Điều này sẽ không thể đem lại phát triển bền vững. Và nó cho thấy rõ ràng lợi ích của các mô hình phân phối hợp nhất, gom nhiều lô hàng trên cùng một phương tiện – theo nhiều cách khác nhau, phục vụ như là “vận tải công cộng” đối với hàng hoá.

Tuy nhiên, dù gom các chuyến hàng trong cùng phương tiện có thể giúp ích trong việc giảm tắc nghẽn và ô nhiễm nhiều hơn so với các phương pháp không gom hàng, nhưng nó không giải quyết được hoàn toàn các vấn đề. Vì các nhà cung cấp dịch vụ logistics phục vụ cho các khu đô thị phải đối phó với sự phức tạp và sự không chắc chắn ngày càng gia tăng, nên cách rõ ràng để hiểu, quản lý và lên kế hoạch cho nó là dựa trên dữ liệu (data-driven) nhiều hơn. Thật không may, không phải tất cả các dữ liệu cần thiết đều tồn tại. Như Tiến sĩ Goodchild lưu ý: “Khi không có dữ liệu đầy đủ, các thành phố thường đưa ra những ý tưởng và sau đó triển khai chúng mà không có sự tham gia của khu vực tư nhân hoặc không có nhiều hiểu biết về tác động của nó.”

Cả Urban Freight Lab của University of Washington và Megacity Logistics Lab của MIT đang nỗ lực thu thập dữ liệu và tạo ra các công cụ giúp các thành phố lên kế hoạch cho một cơ sở hạ tầng bền vững hơn cho việc vận chuyển và giao hàng. Tiến sĩ Winkenbach lưu ý rằng: “Sử dụng các dữ liệu có độ phân giải cao hơn để phát triển các mô hình tốt hơn sẽ giúp chúng tôi xây dựng các mạng lưới logistics đô thị tối ưu hơn mà có thể thực sự nắm bắt được sự không chắc chắn và sự biến đổi của thị trường đô thị”.

Trường hợp của Trung Quốc

Trung Quốc nhanh chóng phản ứng với nhu cầu giao hàng thương mại điện tử (e-commerce) đang tăng lên

Ba mươi tỷ bưu kiện đã được giao tới Trung Quốc vào năm 2016, tăng 10 tỷ hay 53% so với năm 2015. Sự tăng trưởng nhanh chóng này gây ra những vấn đề khi giao hàng tận nơi. Tuy nhiên, theo Nikkei Asian Review, điều này cũng sẽ cung cấp một nguồn các cơ hội – cho dù nó đòi hỏi người tiêu dùng “tự cung cấp” giao hàng chặng cuối hoặc sử dụng một mô hình crowdsourcing giống kiểu Uber để giao các bưu kiện.

Các nhà bán lẻ trực tuyến đang thử nghiệm tủ khóa hoặc cái mà họ gọi là một cái “kho nhỏ” (mini depot), nơi giao hàng cuối cùng bằng chuyển phát nhanh được thay thế bởi người tiêu dùng. Các tủ khóa đã được khai thác bởi các tổ chức độc lập sao cho nhiều bên phân phối có thể sử dụng chúng.

JD.com là một trong những công ty thương mại điện tử (e-commerce) lớn nhất tại Trung Quốc. Một trong những đơn vị kinh doanh của công ty (gọi tắt là O2O hoặc online-to-offline) hoạt động với các doanh nghiệp địa phương như các cửa hàng tạp hoá, đang giao hàng loạt các hàng hoá và dịch vụ đến nhà của người dân, từ đồ ăn đến quần áo đã được giặt. Giao hàng tận nhà là một trong những kinh doanh phát triển nhanh nhất của công ty. Gần đây, công ty cũng đã mua Dada Nexus, một công ty crowd-sourcing dẫn đầu thị trường phân phối của đất nước với 1,3 triệu nhân viên giao hàng đã đăng ký.

Ba cách tiếp cận này – tủ khóa, kho mini và tìm nguồn cung ứng đám đông – chỉ là một vài trong số các phương thức mà các nhà cung cấp dịch vụ logistics đang làm để giải quyết quy mô phân phối ở các siêu đô thị của Trung Quốc.

 

Thay vì trở thành một số nhân gây ra tắt nghẽn, thì thương mại điện tử (e-commerce) hiệu quả, dựa vào dữ liệu, bền vững thực sự có thể làm giảm việc sử dụng phương tiện cá nhân. Theo nghĩa này, tạo điều kiện cho logistics đô thị bền vững nên được nhìn nhận là hoàn toàn phù hợp với mục tiêu của thành phố nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống. Giao thông giao hàng cũng chỉ chiếm một phần nhỏ trong lưu lượng tiếp cận vào thành phố về mặt tổng thể, nhưng nó là một động lực lớn hơn rất nhiều về tầm quan trọng kinh tế.

Các thành phố muốn tạo điều kiện cho việc đi bộ và đi xe đạp được, giảm tắc nghẽn và chất lượng không khí tốt hơn, có thể lại bỏ qua tầm quan trọng của dịch vụ vận tải và giao hàng trong quá trình ra quyết định của họ. Không chỉ là một vấn đề mà còn hơn thế nữa, các giải pháp logistics thương mại điện tử và logistics bền vững là một cơ hội song hành để giúp các thành phố đạt được mục tiêu chất lượng cuộc sống rộng lớn hơn.

 

Trường hợp của Trung và Nam Mỹ

Trung và Nam Mỹ sử dụng Thanh toán di động để cho phép hiệu suất giao hàng ở các “cửa hiệu nano”

Ở phần lớn Trung và Nam Mỹ, người dân ở các thành phố được phục vụ bởi các “cửa hiệu nano” của “các ông bố bà mẹ”,  phục vụ người tiêu dùng có thu nhập thấp.

Những cửa hàng này có thể là chiếc giỏ hàng (cart) hoặc nhà xe (garage) với tầm mười mét vuông sân bán lẻ. Do kích thước nhỏ của chúng, chúng có lượng hàng tồn kho rất ít và do đó cần phải bổ sung thường xuyên.

Theo MIT Lab Megacity Logistics, số lượng cửa hiệu nano là rất lớn. Ở Mexico, CocaCola cung cấp 1,2 triệu điểm bán. Riêng ở Mexico City, Unilever cung cấp kem cho hơn 10.000 tủ đông. Một trong những thách thức chính trong việc đưa sản phẩm đến các cửa hiệu nano là chúng chủ yếu hoạt động trên cơ sở tiền mặt. Điều này có nghĩa là mỗi công ty có xu hướng tự giao hàng để thu tiền.

Tại thành phố Mexico, những chiếc xe tải bia và xôđa đi đến các tuyến vận chuyển mà không có xe tải nào đầy tải, và người lái xe phải không chỉ giao hàng mà còn thu tiền. Với sự ra đời của thanh toán điện tử qua điện thoại di động, các công ty logistics có thể gom hàng và điều phối các hoạt động giao hàng chặng cuối (last-mile delivery) và các khoản thanh toán có thể được gửi cho từng nhà cung cấp dưới dạng kỹ thuật số.

 

4.Cộng tác chính là chìa khóa

Rõ ràng là có những rào cản lớn trong việc cung cấp dịch vụ logistics đô thị bền vững và hiệu quả hơn, với 65% các doanh nghiệp được khảo sát đã làm nổi bật sự hợp tác không đầy đủ giữa các ngành, và 64% cho thấy thiếu cơ sở hạ tầng chính yếu.

Mặc dù những vấn đề này đang tăng lên hàng đầu, nhưng sự thiếu đầu tư, trách nhiệm lãnh đạo và quản trị cũng được xác định là những thách thức lớn khác mà doanh nghiệp cần phải vượt qua.

Nếu những rào cản này không được giải quyết và nếu các thành phố không thể cải thiện việc quản lý thì các doanh nghiệp và người dân sẽ phải tiếp tục gánh chịu. Khi được yêu cầu xác định các vấn đề ảnh hưởng đến tổ chức của họ do sự gia tăng dân số đô thị và cách quản lý các thành phố, gần một phần ba số công ty phản hồi đã ghi nhận một số tác động liên quan đến việc giao hàng trong môi trường đô thị.

Ngoài việc có nhiều cách tiếp cận khác nhau, chẳng hạn như hạn chế tắc nghẽn hoặc hạn chế kích thước xe, nhiều thành phố có những tầm nhìn khác nhau về điều họ muốn trở thành.

Như Harris của UPS đã nói: “Các tổ chức thành phố như C40 (một mạng lưới các siêu đô thị trên thế giới đã cam kết giải quyết vấn đề thay đổi khí hậu) và một số khác có thể có một mức độ hiệu quả nhất định khi nói về tính hòa hợp, nhưng chúng ta sẽ không bao giờ lấy đi được ham muốn của ngài thị trường một thành phố muốn có được khác biệt so với người tiền nhiệm.” Các quan chức của thành phố cũng đang tìm cách tạo sự khác biệt hóa cho thành phố của họ so với những nơi khác để thúc đẩy sự ưa thích giữa các doanh nghiệp và người dân, những người cung cấp cơ sở doanh thu chính giúp thành phố phát triển mạnh.

Để tránh đưa ra các quyết định hoặc thông qua luật mà có thể dẫn đến những hậu quả không mong muốn, các quan chức thành phố sẽ cần phải hợp tác với các nhà cung cấp hậu cần để giải quyết những thách thức này.

Dựa trên nghiên cứu này, các doanh nghiệp đã thấy được vai trò của họ. 72% doanh nghiệp được khảo sát cho rằng họ nên làm việc chặt chẽ với các quan chức thành phố trong việc xác định và giải quyết các thách thức về môi trường và xã hội ở đô thị.

Mặc dù không có thành phố nào giống thành phố nào, điều quan trọng là phải có các công cụ và quản lý phù hợp để thiết kế và thực hiện kế hoạch vận chuyển hàng hóa đô thị. Điều này đặc biệt quan trọng vì sự lãnh đạo của thành phố có thể thay đổi theo từng chu kỳ bầu cử, mà hầu hết các thay đổi đều khó thực hiện trong một nhiệm kỳ.

Theo ông Ani Dasgupta, Giám đốc toàn cầu của Viện Tài nguyên Thế giới (WRI) của Trung tâm Ross về các thành phố bền vững: “Nếu bạn muốn tiếp tục con đường cải cách hoặc thay đổi, bạn thực sự cần một liên minh có thể duy trì hoặc sống ngoài thời của một thị trưởng. Đó là lý do tại sao bạn cần phải kết nối tất cả các bên có lợi ích liên quan lại với nhau để động lực thay đổi được duy trì trong một thời gian dài. ”

Dasgupta tiếp tục chia sẻ cách tổ chức của ông ấy “thường thấy rằng ngay cả trong chính quyền thành phố, các phòng ban khác nhau không nói chuyện với nhau nhiều như họ cần. Đó là lý do tại sao điều quan trọng là đưa các thành phố, doanh nghiệp, cộng đồng và xã hội cùng tham gia.” Khi được hỏi các bên liên quan nên tham gia để giải quyết tắc nghẽn và các vấn đề liên quan đến đi lại khác trong môi trường đô thị, người được khảo sát trả lời rằng, về cơ bản, mọi người đều nên tham gia vào.

Có nhiều ý tưởng sáng tạo cần xem xét khi tiến tới xây dựng kế hoạch logistics trên toàn thành phố. Theo Ed Rogers, Giám đốc cấp cao về kỹ thuật công nghiệp của UPS: “Tính kinh tế theo quy mô mà các công ty vận chuyển và phân phối mang lại để giúp phát triển các giải pháp này có thể đẩy nhanh việc thử nghiệm và áp dụng các phương pháp tiếp cận mới, nhưng chỉ khi có sự cộng tác với nhiều bên liên quan.

“Từ quan điểm bền vững, đây là một không gian tiền cạnh tranh. Chúng tôi muốn toàn bộ ngành nhận và giao hàng sẽ hiệu quả hơn và có tác động thấp hơn đến môi trường và các cấu trúc xã hội của một thành phố .”

Harris của UPS đã bày tỏ quan điểm lạc quan: “Đây vốn dĩ là một vấn đề phân cấp. Nó phức tạp nhưng nó cũng tốt theo nghĩa khác. Các thành phố độc lập, có thể phát triển rất nhanh. Họ có thể trở thành “đài phun nước” của sự đổi mới, trong đó các chính quyền quốc gia và vùng có xu hướng chậm hơn và có tính quan liêu hơn trong cách tiếp cận của họ.”

 

Trường hợp của thành phố New York

Thành phố New York quy định khung giờ giao hàng

Xe tải và xe thương mại là những yếu tố quyết định đến sức sống kinh tế của thành phố New York (NYC), chiếm phần lớn lượng hàng hóa vận chuyển vào và trong phạm vi năm quận của thành phố. Để giảm tắc nghẽn ban ngày và giảm phát thải liên quan đến việc chạy quá mức, NYC đã thử nghiệm khái niệm “khung giờ hàng” (off-hour delivery), trong đó hàng hoá được giao hàng vào buổi tối hoặc sáng sớm thay vì trong suốt ngày làm việc.

Sự thành công của dự án phần lớn dựa trên sự hợp tác đa bên giữa các đối tác nhà nước và tư nhân, các nhà vận động cộng đồng và các tổ chức thương mại. Như đã báo cáo trong Hội nghị Thường niên lần thứ 8 về Logistics của thành phố: “Con đường thực hiện đã bắt đầu khi dự án chứng minh nó mang lại lợi ích cho tất cả các bên liên quan như thế nào: công dân và người đi xe đạp sẽ được hưởng chất lượng sống cao hơn với sự can thiệp ít hơn từ việc giao hàng; nền kinh tế đô thị sẽ được cải thiện bởi chi phí giao hàng thấp hơn; nhà vận tải sẽ được hưởng lợi từ việc tăng năng suất; người nhận sẽ được hưởng độ tin cậy cao hơn; khách du lịch trong ngày sẽ trải nghiệm tốc độ đi nhanh hơn; và với việc sử dụng các công nghệ xe tải tiếng ồn thấp, cộng đồng địa phương sẽ không bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn ban đêm. ”

Đối với một số doanh nghiệp liên quan, chẳng hạn như nhà hàng và khách sạn, kết quả của chương trình thí điểm rất ấn tượng. Thời gian phục vụ trung bình thấp khoảng 25 phút cho một lần giao hàng, trong khi thời gian phục vụ trung bình từ 7 giờ sáng đến 4 giờ chiều tất cả đều vượt quá một tiếng đồng hồ cho mỗi lần giao hàng.

Tốc độ trung bình cho các chuyến giao hàng C2C cao hơn và không có tiền phạt đậu xe được báo cáo trong suốt thời gian thí điểm, giảm chi phí khoảng 1.000 đô la một tháng cho mỗi xe tải. Thật không may, đây không phải là một giải pháp phù hợp với tất cả vì nó không thực tế đối với nhiều trường hợp giao hàng ngay tại nhà và văn phòng.

 

5.Hoạt động giao hàng

Một trong những thách thức lớn nhất đối với nhà cung cấp dịch vụ logistics là giao hàng chặng cuối (last-mile delivery), vận chuyển hàng hoá từ điểm tập kết (hub) tới nơi giao hàng cuối cùng. Bởi vì môi trường đô thị đưa ra những thách thức đặc biệt đối với việc thực hiện các đợt giao hàng chặng cuối, nên nhiều tổ chức đang làm việc để đưa ra các giải pháp đổi mới. Dưới đây là một số công nghệ được sử dụng trên khắp thế giới và cuối cùng có thể hoạt động với quy mô nhất định. Tuy nhiên, quan trọng là không có giải pháp nào tốt nhất đối với hoạt động giao hàng trong thành phố, không có giải pháp nào phù hợp với mọi tình huống của thành phố.

Giảm tắc nghẽn và nâng cao chất lượng cuộc sống đòi hỏi một cách tiếp cận hợp tác với khu vực tư nhân, thúc đẩy đổi mới và sử dụng rộng rãi các công nghệ mới.

Xe đạp được hỗ trợ điện (e-Bikes)

e-Bike được trang bị động cơ điện chạy bằng pin cho phép có thể đi được quảng đường dài hơn, mang được nhiều tải hơn và đi được ở đồi núi và các địa hình khác.

Hiệu quả năng lượng tối đa đạt được khi kết hợp pin và sức mạnh của con người đồng thời. Các e-Bike làm việc kết hợp với một container tập trung, có thể được đưa vào thành phố trong giờ không cao điểm.

Vòng tuần hoàn logistics

Các dịch vụ logistics theo chu kỳ kết hợp với e-Bikes, Trikes và thậm chí là việc đi bộ – tất cả đều được tích hợp với chiến lược container tập trung và được tăng cường bởi các phương tiện chạy bằng điện (Electric Vehicle). Có rất nhiều lựa chọn sẵn có tạo ra khả năng phục vụ các thành phố một cách hiệu quả nhất có thể, cho phép thích ứng tất cả các con đường đến từng ngõ ngách của thành phố.

Phương tiện sử dụng nhiên liệu thay thế

Một phương tiện giao hàng đầy tải, phát thải ở mức zero có thể là một cách hiệu quả để giảm số lượng các phương tiện giao thông ồn ào, không hiệu quả, ít thân thiện với môi trường trên đường. Khi các công nghệ mới xuất hiện, như các tế bào nhiên liệu hydro tái tạo, số lượng các lựa chọn thay thế khả thi đang gia tăng.

Giao hàng không dùng đến con người

Người ta đã viết nhiều về các loại xe tự vận hành và máy bay không người lái, và cả hai công nghệ này đang tiến tới với một tốc độ nhanh, theo nhiều cách nhanh hơn mà môi trường pháp lý và ngành bảo hiểm có thể chuẩn bị để đáp ứng.

 

Tủ giao hàng (locker)

Ở Hoa Kỳ, luật pháp liên bang cấm bất kỳ chủ thể nào khác ngoài Dịch vụ bưu điện chuyển đến hộp thư mà không có bưu phí yêu cầu, và ở châu Âu, hầu hết các quốc gia đều yêu cầu phải giao hàng tại nhà để lấy chữ ký người nhận.

Các tòa nhà chung cư và các doanh nghiệp đang được trang bị (hoặc trang bị thêm) để chứa phòng nhận kiện hàng hoặc tủ giao hàng có thể được truy cập bằng thẻ từ hoặc điện thoại di động, một thay thế được chấp nhận cho chữ ký. Tủ khóa cũng đang tìm kiếm một nơi ở các vị trí công cộng, chẳng hạn như các cửa hàng bán lẻ và nhà ga điện ngầm, để cho phép truy cập nhanh từ một điểm tập trung.

Một câu hỏi xuất hiện trong logistics hiện đại, đó là bạn sẽ làm gì khi kết hợp giao hàng không cần con người với tủ giao hàng? Câu trả lời là các phương tiện tự vận hành được trang bị tủ khóa có thể tự lái đến một khu phố (hoặc khuôn viên nhà thờ hoặc khu mua sắm hoặc sân bóng đá) và đậu xe trong ngày để cho phép người dân địa phương lấy hàng hoá mà họ đã mua.

Giao hàng bằng robot

Các robot giao hàng là các phiên bản được cá nhân hóa hơn của xe tự vận hành có tủ khóa và xuất hiện ở các thành phố khi các thí điểm được triển khai. Hãy nghĩ đến R2D2 được mở bằng mã truy cập để lấy hàng của bạn.

Trong thùng xe

Trộm cắp hàng hóa là một thách thức đối với việc giao hàng nhưng Volvo và các nhà sản xuất ô tô khác đang thử nghiệm các dịch vụ giao hàng trong thùng xe.

Một ứng dụng điện thoại thông minh có thể được chỉ định một chìa khoá dùng 1 lần để truy cập thùng xe của khách hàng. Điều này giúp giao hàng an toàn và thuận tiện và có thể đặc biệt hữu ích trong các nhà để xe và bãi đỗ xe.

Sản xuất bồi đắp (additive manufacturing)

Bằng cách sử dụng in ấn 3D, logistics của việc đưa hàng hóa vào thành phố được giảm đáng kể bởi vì mọi thứ có thể được “in” gần vị trí của khách hàng và bạn chỉ cần cung cấp nguyên liệu có thể được sử dụng trên nhiều sản phẩm khác nhau.

Đậu xe và đi bộ

Các phương pháp tiếp cận công nghệ thấp cũng đang được thí điểm. Tại khu vực Đồi Foggy ở Washington, DC, các tài xế của UPS phát hiện ra rằng họ hiệu quả hơn khi đậu xe và sử dụng một chiếc xe đẩy tay để giao các gói hàng hơn là lái xe tải qua đường phố để hoàn thành việc giao hàng.

TỔNG KẾT

Các quan chức chính phủ, các nhà khoa học, các nhà cung cấp dịch vụ logistics và những doanh nghiệp được phỏng vấn đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giải quyết các kế hoạch logistics và đô thị hóa của thành phố một cách độc nhất.

Tuy nhiên, trong khi mỗi thành phố đều khác nhau theo cách riêng của mình, có những điểm quan trọng có thể được áp dụng cho các thành phố trên thế giới.

  • Thu hút và giáo dục tất cả các bên liên quan và giúp họ hiểu được các mối quan tâm thương mại được thực hiện theo cách tiếp cận để di chuyển con người cũng như hàng hoá và dịch vụ mà họ yêu cầu cho một môi trường lành mạnh, an toàn và công bằng.
  • Hợp tác với các nhà hoạt động thiên nhiên như các phòng thí nghiệm học thuật và các tổ chức phi chính phủ có thể tạo điều kiện thảo luận về quy hoạch đô thị trên nhiều cơ quan.
  • Dựa trên dữ liệu để đưa ra các quyết định về chính sách và, có thể, đánh giá và thử nghiệm các giải pháp trước khi triển khai trên diện rộng.

—-

Nguồn: UPS & GreenBiz