Mô hình hub and spoke – một phát kiến đã chuyển đổi hoàn toàn ngành vận tải và phân phối

Mô hình hub and spoke – một phát kiến đã chuyển đổi hoàn toàn ngành vận tải và phân phối

Mô hình phân phối hub and spoke là một hình thức tối ưu hoá mạng lưới vận tải, trong đó các tuyến vận tải được tổ chức như là một loạt các “spoke” kết nối các điểm xa với một “hub” trung tâm. Các hình thức đơn giản của mô hình phân phối / kết nối này có thể đối lập với các hệ thống vận tải từ điểm đến điểm (point-to-point), trong đó mỗi điểm đều có tuyến đường trực tiếp tới mọi điểm khác, và đó là phương pháp chính để vận chuyển hành khách và hàng hóa cho đến những năm 1970. Mô hình phân phối hub and spoke được phát triển bởi Delta Airlines năm 1955 và đã cách mạng ngành công nghiệp vận tải logistics sau khi Federal Express minh chứng cho giá trị của khái niệm này vào đầu những năm 1970.

 

Trong quá khứ, ngành vận tải và phân phối được thực hiện theo các nguyên tắc của các hoạt động điểm đến điểm (point-to-point) hay còn gọi là định tuyến trực tiếp. Khi công nghệ phát triển, lĩnh vực logistics đã tìm ra cách vận chuyển hàng hóa nhanh hơn và tiết kiệm chi phí hơn. Mô hình hub and spoke được sinh ra từ những nỗ lực của ngành trong việc phát triển các mạng lưới hiệu quả hơn.

Để hiểu rõ hơn về mô hình hub and spoke, hãy tưởng tượng một bánh xe đạp phức tạp, với “hub” (trung tâm) như là một tâm điểm chiến lược của mạng, và các “spoke” (thanh ray) phát ra để kết nối nó với các điểm từ xa. Chức năng của các hub and spoke khác nhau tùy theo ngành công nghiệp.

 

Trong những năm gần đây, các công ty vận tải đã áp dụng mô hình hub and spoke để tăng tốc độ giao hàng và giảm chi phí.

 

Sử dụng mô hình này, các chuyến vận chuyển thu thập hàng hóa từ điểm ban đầu (các đầu của spoke) và vận chuyển nó trở lại một cơ sở xử lý trung tâm (hub). Các lô hàng sau đó hoặc được lưu trữ, hoặc được phân phối trực tiếp từ trung tâm của mạng lưới. Các công ty quy mô lớn vận hành rất nhiều hệ thống hub and spoke.

 

Một ưu điểm của mô hình hub and spoke là nó đã cải thiện việc theo dõi lô hàng. Khi các gói hàng được vận chuyển trực tiếp từ thành phố nguồn, có quá nhiều tuyến đường kết nối chúng tới một mạng lưới rộng lớn các thành phố khác. Theo dõi việc vận chuyển trong một hệ thống phức tạp như vậy sẽ là một cơn ác mộng trong logistics.

 

Hơn nữa, vì cần có sự phối hợp tập thể giữa các thành phố, các công ty sẽ cần phải chi tiền cho nhân viên và trang bị cho từng cơ sở. Với mô hình hub and spoke, họ chỉ cần lo lắng cho một trung tâm vận hành logistics duy nhất.

Cụ thể, các công ty xe tải tư nhân sử dụng mô hình hub and spoke để sử dụng một nhóm các lái xe và xe tải không chuyên dụng trên diện rộng. Các tài nguyên không chuyên dùng có thể được sử dụng theo những cách khác cho đến khi khách hàng trong khu vực đó yêu cầu dịch vụ của họ.

 

Các công ty như Federal Express, UPS, Norfolk Southern và Yellow Freight đã áp dụng thành công mô hình phân phối hub và spoke để đạt được lợi thế cạnh tranh về logistics. Họ đã nhận thấy rằng mô hình phân phối này làm giảm chi phí vận chuyển, cải thiện thời gian chu kỳ và giảm hàng tồn kho. Các công ty này và nhiều công ty khác hiện đang nhận ra rằng tiết kiệm đáng kể về mặt chi phí có thể là kết quả của việc cải thiện quy trình phân phối.

 

Mạng lưới hub and spoke là một hệ thống logistics tích hợp tập trung, được thiết kế để giảm chi phí. Các trung tâm phân phối hub and spoke nhận các sản phẩm từ nhiều nguồn khác nhau, gom các sản phẩm, và gửi trực tiếp đến nơi giao hàng cuối cùng.

 

Các nghiên cứu cho thấy rằng chi phí logistics chiếm từ 10-35% tổng doanh thu của các công ty. Và 60% chi phí logistics thuộc về vận chuyển hàng hoá . Một nghiên cứu của công ty tư vấn PRTM cho thấy các công ty được coi là các tổ chức thực hành tốt nhất trong việc đưa sản phẩm ra thị trường có lợi thế về chi phí chuỗi cung ứng 45% so với trung bình một đối thủ cạnh tranh khác của họ.

 

Một ví dụ điển hình về vận hành mô hình phân phối Hub and Spoke ngay từ lúc nó mới xuất hiện là trường hợp của công ty Lowe,

 

Lowe’s Home Improvement Warehouse

Lowe’s đã áp dụng mô hình phân phối hub and spoke, cho phép công ty giành được một phần lớn thị phần trong thị trường cải tiến nhà cửa. Các nhà phân tích nhận xét rằng chiến lược trung tâm phân phối của Lowe đã cho phép công ty có được lợi thế cạnh tranh .

 

Chiến lược trung tâm phân phối của Lowe

Lowe quyết định triển khai mô hình phân phối hub and spoke để khuyến khích tăng trưởng nhằm đạt được thị phần và đạt được mức lợi nhuận cao hơn. Lowe đã thiết lập mạng lưới 9 trung tâm phân phối cho 850 cửa hàng hiện tại. Mỗi trung tâm phân phối được thiết kế để phục vụ khoảng 100 đến 125 cửa hàng. Lowe dự định mở hơn 100 cửa hàng mỗi năm trong một vài năm tới, do đó, một trung tâm phân phối mới sẽ mở mỗi năm.

 

Trung tâm phân phối của một Lowe chứa gần 93 triệu mét vuông (khoảng trống cho gần 30 sân bóng đá), với gần 13.00m băng tải, và có kệ lưu trữ cao hơn 9m. Các trung tâm phân phối này nhận các xe tải lớn từ các nhà cung cấp. Các sản phẩm được quét bằng mã vạch và sau đó được đặt tại một vị trí cụ thể trong kho. Khi sản phẩm đã sẵn sàng để vận chuyển, hệ thống băng chuyền và mã vạch sẽ tự động đưa chúng đến các xe tải. Có hơn 100 chuyến xe tải trên một trung tâm phân phối. Mỗi cửa hàng mà trung tâm phân phối phục vụ nhận được từ hai đến tám xe tải hàng tuần.

 

Chi phí xây dựng của mỗi trung tâm phân phối của Lowe là 45 triệu đến 75 triệu USD. Lowe giải thích rằng những chi phí trả trước cao dẫn đến chi phí thấp hơn do các nhà cung cấp tính và dẫn đến kiểm soát hàng tồn kho chặt chẽ hơn. Lowe cho biết họ nhận được khoản tiết kiệm từ 5 đến 10 phần trăm cho chi phí của mỗi sản phẩm. Theo kết quả của mô hình hub and spoke, phân phối hiện chỉ chiếm 3% chi phí tồn kho của công ty, giảm xuống từ con số 5% –  6% vào năm 1994. Điều này ưu thế hẳn so với trung bình trong ngành từ 3%-8%, mạng lại tiết kiệm chi phí đáng kể cho một công ty với 22 tỷ USD doanh thu hàng năm. Colin McGranahan, một nhà phân tích của Sanford Bernstein, đặt hệ thống phân phối của Lowe vào danh sách hàng đầu trong “top 25% các nhà bán lẻ về năng lực phân phối của họ”.

 

Hiện tại, hơn 50% hàng tồn kho của công ty di chuyển qua các trung tâm phân phối. Các nhà điều hành của Lowe nhắm tới mục tiêu bổ sung hàng tồn kho vào mạng lưới trung tâm phân phối của họ, đưa nhiều xe tải hơn đến từng cửa hàng thường xuyên hơn.

 

Quyết định của Lowe vào đầu những năm 1990 sử dụng mô hình phân phối hub and spoke đã cho phép công ty này đạt được lợi thế cạnh tranh đáng kể. Với thị trường thế giới liên tục thay đổi, các công ty phải có nhiều vị trí tìm nguồn cung ứng, nhiều phương thức vận chuyển và mạng lưới phân phối linh hoạt và hiệu quả về chi phí. Mạng lưới hub and spoke cho phép các công ty tập trung hóa mạng lưới phân phối của mình và trở nên hiệu quả hơn trong việc kiểm soát luồng sản phẩm trên toàn bộ doanh nghiệp của họ, đồng thời tiết kiệm đáng kể chi phí.

 

——

Nguồn: Smartlog tổng hợp từ Wikipedia, Inbound Logistics và khoa Quản trị chuỗi cung ứng của trường NC State University

Dự án hành lang Cluster 2.0 – Giải pháp cho logistics bền vững ở châu Âu

Dự án hành lang Cluster 2.0 – Giải pháp cho logistics bền vững ở châu Âu

Một mạng lưới các cụm (cluster) logistics được kết nối cao có thể đóng vai trò quan trọng trong việc đạt được mục tiêu của Liên minh châu Âu là tạo ra một hệ thống vận tải hàng hóa bền vững và hiệu quả hơn. Một sáng kiến ​​nghiên cứu được EU hậu thuẫn gọi là Clusters 2.0 đang đặt nền móng cho một mạng lưới như vậy bằng cách phát triển cách kết nối các trung tâm vận tải qua mạng lưới Internet.

(more…)

Giải pháp  tối ưu hoá các hoạt động vận tải đầu vào cho các công ty thực phẩm và nước uống

Giải pháp tối ưu hoá các hoạt động vận tải đầu vào cho các công ty thực phẩm và nước uống

Các doanh nghiệp thực phẩm và nước giải khát có chuỗi cung ứng phức tạp với nhiều đặc thù: thị hiếu của khách hàng luôn thay đổi, tỷ suất lợi nhuận thấp, sản phẩm tươi, dễ hư hỏng, ngày hết hạn sử dụng sản phẩm và hơn thế nữa.

 

Có được đúng khối lượng sản phẩm vào đúng thời điểm, và ở đúng vị trí, không phải là một nhiệm vụ dễ dàng.

 

Khả năng hiển thị (visibility) và sự kiểm soát các quy trình chuỗi cung ứng sẽ cho phép các doanh nghiệp thực phẩm và nước giải khát giải quyết những thách thức này trong khi đạt được các mục tiêu kinh doanh.

 

Quản lý vận chuyển hàng hóa đầu vào tốt, điều mà thường xuyên bị bỏ sót và thường xuyên không được ưu tiên chương trình chuỗi cung ứng của một chủ hàng, có thể giúp các công ty cải thiện Khả năng hiển thị (visibility) của lô hàng, tiết kiệm tiền và nâng cao dịch vụ khách hàng – tất cả đều làm tăng lợi nhuận.

 

Nếu triển khai đúng, quản lý vận chuyển hàng hóa đầu vào không chỉ giúp các công ty hiểu rõ hơn về vị trí hàng hóa của họ trong thời gian thực.

Nó cũng mang lại cho họ các mối quan hệ tốt hơn với các nhà chuyển chở và nhà cung cấp trong nỗ lực gom các chuyến hàng (consolidation), thiết lập các hướng dẫn định tuyến mà có thể mang lại hiệu quả sử dụng bến (dock) tốt hơn và thúc đẩy các sáng kiến ​​cải tiến liên tục.

 

Các công ty thực phẩm và nước giải khát có hàng chục chuyến hàng ngày từ các nhà cung cấp khác nhau. Tuy nhiên, những chuyến hàng gửi đến này không được phối hợp hoặc gom lại với nhau, điều này làm tăng lên quá mức số lượng các chuyến hàng nhận trong ngày.Có quá ít khả năng hiển thị (visibility) đối với thời điểm hàng đến và sự thay đổi thường xuyên đối với các chuyến hàng đến sẽ gây ra sự cố ở bến (dock) và kho hàng, có thể khiến chi phí nhập kho tăng vọt và chi phí vận chuyển hàng hóa đầu vào của bạn vượt quá ngân sách.

 

Các công ty thực phẩm và đồ uống từ lớn đến nhở có thể dựa vào Hệ thống Quản lý Vận tải (Transportation Management System – TMS) là công cụ hoàn hảo để giải quyết nhiều thách thức đi kèm với việc quản lý vận chuyển hàng hóa đầu vào.

 

Ví dụ, một nhà bán lẻ thực phẩm hoạt động trên 200 cửa hàng ở 7 tiểu bang ở Mỹ có hàng trăm chuyến hàng LTL mỗi tuần, nhưng bằng cách sử dụng Hệ thống Quản lý Vận tải (Transportation Management System – TMS), họ đã có thể giảm số lượng chuyến hàng giao đến còn 20 hoặc 30 mỗi tuần bằng cách kết hợp các chuyến hàng LTL thành các chuyến FTL từ các điểm tập kết hàng nhờ có sự tích hợp thông tin chuyến hàng và sự cộng tác từ các nhà vận tải và nhà cung cấp. Chi phí điển hình cho việc dỡ hàng là 200 đô la, điều này nghĩa là họ tiết kiệm khoảng 34.000 đô la mỗi tuần chỉ trên chi phí bốc dỡ!

 

Dưới đây là ba bước bạn có thể thực hiện để bắt đầu quản lý vận chuyển hàng hóa đầu vào của mình ngày càng hiệu quả hơn:

  1. Hợp tác với các nhà cung cấp để lên kế hoạch hoạt động

Xác định cách hiệu quả và hiệu năng nhất để vận chuyển và dỡ hàng hóa của bạn, và xây dựng một kế hoạch với các nhà cung cấp để có lợi cho cả hai bên. Không áp đặt một con số tỷ lệ lô hàng nào phải được nhà cung cấp kiểm soát và lô hàng nào phải được khách hàng kiểm soát. Hãy cho nhà cung cấp của bạn một sự lựa chọn để họ có thể chọn dịch vụ và thủ tục thanh toán hiệu quả nhất. Sau đó, áp dụng một hướng dẫn định tuyến chuẩn để các nhà cung cấp tuân thủ.

 

Điều này sẽ thiết lập một hướng dẫn bắt buộc sẽ được sử dụng cho tất cả các lô hàng do nhà cung cấp kiểm soát (vendor-controlled shipment – VDS) và lô hàng nào là khách hàng nhận (customer pick-up shipment – CPU). Các chương trình tuân thủ của nhà cung cấp làm giảm chi phí hàng hóa của bạn bằng cách làm cho nhà vận chuyển và nhà kho của bạn hiệu quả hơn. Trong trường hợp nhà cung cấp của bạn không tuân thủ, họ sẽ chia sẻ chi phí của bạn thông qua các vi phạm được nêu trong hướng dẫn định tuyến.

 

  1. Tạo liên kết chặt chẽ với các nhà cung cấp của bạn

Gom các chuyến hàng đến thành FTL khi có thể để giảm chi phí vận chuyển hàng hóa và dỡ hàng. Giảm số lượng các chuyến hàng LTL riêng lẻ sẽ giảm chi phí vận chuyển, tăng đáng kể hiệu quả của trung tâm phân phối và giảm đáng kể chi phí dỡ hàng. Hãy suy nghĩ xem vận hành của bạn sẽ hiệu quả hơn đáng kể như thế nào với ít xe tải và ít chuyến giao hàng hơn. Ví dụ: bốc hàng từ 10 đến 14 lô hàng LTL khác nhau có thể tốn chi phí gấp 5 lần so với bốc dỡ một xe tải. Khách hàng và nhà cung cấp có thể chia sẻ tất cả những khoản tiết kiệm này thông qua hiệu quả của các lô hàng được gom và các đầu kéo.

 

Bằng gom các chuyến hàng LTL, bạn có thể đơn giản hóa việc quản lý sân bãi và tối đa hoá các cơ hội gom hàng. Hãy chọn các nhà vận tải với mức giá hấp dẫn và dịch vụ cao cấp và cố gắng giới hạn từ hai đến bốn nhà vận tải khác nhau, cho dù lô hàng là CPU hay VDS. Điều này sẽ cung cấp cho mỗi nhà vận tải đủ sản lượng để đảm bảo gom các lô hàng LTL mà không ảnh hưởng đến mức độ dịch vụ.

 

  1. Tận dụng công nghệ để tăng lợi thế của bạn

Sử dụng Hệ thống Quản lý Vận tải (Transportation Management System – TMS) để tối ưu hóa việc quản lý vận chuyển hàng hóa đầu vào của bạn là một khả năng.

TMS cũng sẽ tự động theo dõi, lên kế hoạch và phân bổ cửa bến/kho, điều này sẽ trực tiếp làm giảm chi tiêu cho lao động của bạn. Thực sự là, nếu bạn không thể đo lường được điều gì đó thì khó có thể cải thiện nó. Một TMS có hiệu quả sẽ nắm bắt tất cả các phần dữ liệu có liên quan và trả về các báo cáo, bảng điều khiển và thẻ điểm (scorecard) cho phép bạn phân tích chương trình vận chuyển hàng hóa hàng đến và xác định cơ hội để tăng hiệu quả.

 

Cuối cùng, quản lý vận chuyển hàng hóa đầu vào trở nên thuận lợi nhờ công nghệ này, giúp các chủ hàng đạt được các mục tiêu về chi phí và năng suất mà thường bị bỏ qua trong logistics.

 

Bằng cách nhìn lại để hiểu rõ hơn về môi trường hàng hóa đầu vào của bạn – sau đó làm việc với các nhà vận tải và nhà cung cấp để đưa ra một kế hoạch hành động để cải tiến nó – bạn sẽ có thể tận dụng hết năng lực của thị trường, có được giá cước tốt nhất và đạt được khả năng hiển thị (visibility) tốt hơn trong chuỗi cung ứng từ điểm đầu đến điểm cuối của bạn.

 

——

Nguồn: Supply Chain 247

Sự gián đoạn kỹ thuật số trong vận tải và logistics – lời cảnh báo cho các công ty lâu đời

Sự gián đoạn kỹ thuật số trong vận tải và logistics – lời cảnh báo cho các công ty lâu đời

Accenture vừa giới thiệu bài báo mô tả lý do tại sao các năng lực kỹ thuật số lại quan trọng để đối phó với thách thức của sự gián đoạn kỹ thuật số một cách thành công và các công ty hiện tại cần xem xét và thúc đẩy sự “luân chuyển mới” này như thế nào như là một hành động có ý thức và thận trọng để đổi mới và chuyển đổi mô hình kinh doanh cốt lõi của họ.

 

Sự gián đoạn kỹ thuật số trong ngành công nghiệp logistics đang đe dọa các công ty truyền thống vì sự không tương thích của mô hình kinh doanh truyền thống – trừ khi họ cũng học cách đột phá.

 

Các doanh nghiệp kỹ thuật số mới đang chuyển đổi các mối quan hệ truyền thống trong kinh doanh vận tải và logistics.

 

Các dịch vụ của họ, được xây dựng dựa trên các dữ liệu khổng lồ (big data), công nghệ đám mây (cloud) và công nghệ nền tảng kết nối, mang đến cho khách hàng những trải nghiệm liền mạch mà họ tận hưởng:  dễ truy cập, giá cả minh bạch và nhanh chóng, dịch vụ tích hợp gần với thời gian thực.

 

Vẫn còn hoạt động chủ yếu trong các quy trình thủ công và không đồng nhất, được hỗ trợ bởi nhiều công cụ khác nhau, hầu hết những công ty lâu đời trong ngành đều không thể cạnh tranh nổis.

 

Nghiên cứu của Accenture cho thấy rõ ràng rằng nếu họ vẫn “kinh doanh như bình thường”, những người chơi lâu đời có thể sẽ mất cả khả năng cạnh tranh lẫn giá trị.

 

Tuy nhiên, nếu họ nắm bắt được sức mạnh của công nghệ kỹ thuật số và xây dựng các mô hình kinh doanh kỹ thuật số mới, họ có thể nâng cao khả năng cạnh tranh một cách đáng kể, tăng thu nhập trước lãi suất và thuế (EBITDA) khoảng 13% mỗi năm.

 

Tuy nhiên trước tiên, họ cần phải nhận ra sự cấp bách của thách thức gián đoạn kỹ thuật số.

Phân mảnh chuỗi giá trị

Bằng cách lựa chọn những phần lợi nhuận nhất trong chuỗi giá trị của vận tải và logistics, các công ty mới nổi tinh giản áp dụng các mô hình kinh doanh kỹ thuật số, lấy khách hàng làm trung tâm hiện đang dần dần phân mảnh chuỗi giá trị này.

Sự xâm chiếm của họ đe doạ chỉ để lại cho các công ty lâu đời những hoạt động có lợi nhuận tương đối thấp như chuẩn bị vận tải và gom hàng, đồng thời bào mòn lợi thế truyền thống từ điểm đầu đến điểm cuối của họ – sức mua đi kèm với sự minh bạch trong thị trường – và tăng cường sự cạnh tranh giữa hai bên.

Hãy lấy ví dụ các công ty giao nhận vận chuyển (forwarder) và nhà chuyên chở (carrier). Các thị trường trực tuyến, dựa trên nền tảng giờ đây có thể kết nối các chủ hàng trực tiếp với nhà cung cấp dịch vụ logitics (Logistics service provider – LSP) và nhà chuyên chở. Bằng cách cho phép báo giá ngay lập tức cước vận chuyển, quản lý giá cước và thông tin kinh doanh để quản lý hợp đồng và tự động hóa quy trình báo giá và bán hàng, các mô hình này đang phát triển năng lực các thị trường tại chỗ đe dọa vị trí của các công ty giao nhận như là một môi giới chính về năng lực tải của hệ thống.

Các chủ hàng có lô hàng ít phức tạp hơn có thể dễ dàng chuyển sang các dịch vụ mới dựa trên nền tảng (platform-based). Các nhà chuyên chở trong khi đó có thể sử dụng các chợ trực tuyến để tiến hành kinh doanh trực tiếp với các chủ hàng. Và điều này cho phép họ kiểm soát nhiều hơn về giá cả và cơ hội để loại bỏ sự cộng thêm vào giá của công ty giao nhận – cũng như tận dụng tài sản cao hơn và dẫn đến lợi nhuận cao hơn.

Ngay bây giờ, những dịch vụ mới mẻ đang thể hiện thành công nhất với các khách hàng nhỏ và vừa. Nhưng chúng cũng đang ngày càng trở nên hấp dẫn đối với các khách hàng lớn hơn. Rốt cuộc, nếu bạn có thể tự sắp xếp việc vận chuyển của mình trên một nền tảng trung tâm dựa trên web, mà không cần đến một nhà môi giới, vậy thì bạn còn ngần ngại gì mà không làm?

Nâng cao trò chơi

Khi những công ty đột phá kỹ thuật số (digital disruptors) tiếp tục xâm nhập vào chuỗi giá trị với các dịch vụ tập trung vào khách hàng để củng cố các hoạt động logistics, các doanh nghiệp lâu đời cần phải nhanh chóng nâng cao chất lượng dịch vụ bằng cách tận dụng các công nghệ kỹ thuật số để thay đổi cấu trúc giá cả và đẩy lùi những công ty mới xâm nhập ra khỏi thị trường.

Số hóa các quy trình vận hành sẽ giúp các công ty lâu đời đáp ứng với thách thức đặt ra bởi mô hình định giá dựa trên nền tảng (platform-based) và giữ được tính cạnh tranh. Nhưng họ cũng cần nắm bắt các cơ hội tạo ra giá trị mà việc ứng dụng các công nghệ mới mang lại.

Accenture tin rằng tám công nghệ kỹ thuật số sau đây sẽ đặc biệt mang tính đột phá, ở các giai đoạn khác nhau của sự trưởng thành.

 

  1. Blockchain

Đảm bảo an toàn cho công nghệ phân phối và xác nhận dữ liệu, qua đó cải thiện khả năng hiển thị (visibility) của hàng gửi và mang lại sự tin tưởng vào việc bán hàng và vận chuyển hàng hóa quốc tế.

  1. Thực tế ảo tăng cường (augmented reality)

Thực tế ảo tăng cường sẽ cách mạng hoá quá trình chọn, đóng gói và đưa vào sử dụng trong kho và khu vực crossdocking. Nếu công nghệ không được áp dụng, chi phí xử lý sẽ không cạnh tranh và dẫn đến giảm lợi nhuận biên.

  1. Robotics

Quy trình tự động hoá robot sẽ làm tăng mức độ tự động lên đến gần 100% trong quy trình vận chuyển và quy trình lập hoá đơn khách hàng để lại hầu như không có hoạt động nào cho con người làm nữa.

  1. Logistics tự vận hành (autonomous logistics)

Một cách vận chuyển hàng hóa không người lái, đưa hàng từ A đến B sẽ cách mạng hóa ngành công nghiệp này bằng cách loại bỏ sự phụ thuộc vào yếu tố con người. Dữ liệu thu thập được thông qua cảm biến, RfiD, mã vạch và các thiết bị từ xa dọc theo toàn bộ chuỗi giá trị sẽ là năng lực mang tính quyết định.

  1. Các nền tảng kỹ thuật số (digital platforms)

Các nền tảng kỹ thuật số thay đổi cơ cấu doanh thu bằng cách cho phép cả sản phẩm vật lý và sản phẩm ảo, mà qua đó không chỉ quản lý sản phẩm từ điểm này đến điểm khác mà còn cung cấp cho khách hàng những hiểu biết sâu sắc trong chuỗi cung ứng, cho phép tối ưu hóa các bộ phận khác của hoạt động kinh doanh.

  1. Phân tích dữ liệu khổng lồ (big data analytics)

Big Data Analytics với dữ liệu từ toàn bộ hệ sinh thái sẽ cung cấp một tập hợp các thông tin hoàn toàn mới cho phép 3PL thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động kinh doanh thông qua việc tận dụng tài sản cao hơn.

  1. Các giải pháp SAAS cốt lõi

Các ứng dụng được chuẩn hóa, dễ sử dụng và triển khai, thay thế các ứng dụng cốt lõi cức nhắc và được thiết kế riêng mà đã được sử dụng quá lâu trong Freight & Logistics, giúp thúc đẩy sự nhanh nhẹn trong hoạt động kinh doanh.

  1. In 3D (3D printing)

In 3D sẽ đẩy mạnh đáng kể việc phân quyền sản xuất hàng hoá thành phẩm, không chỉ thay đổi khối lượng vận chuyển ngày nay mà còn cho phép tích hợp theo chiều ngang các hoạt động chuỗi giá trị bổ sung, qua đó mở rộng danh mục sản phẩm.

Tất cả những công nghệ này mang lại cho các doanh nghiệp lâu đời hiện đang phải vật lộn trong việc điều chỉnh với đột phá kỹ thuật số (digital disruption) chiếc chìa khóa cho các mô hình kinh doanh mới, tập trung vào khách hàng, và có thể mở ra các cơ hội định giá đáng kể (xem Hình 2).

Điều chỉnh mô hình kinh doanh

Những công nghệ số này mang lại khả năng cho 7 mô hình kinh doanh mới mở ra cơ hội phát sinh từ những thách thức thị trường hiện tại.

  1. Bán hàng kỹ thuật số

Tích cực tham gia và thúc đẩy các nền tảng vận chuyển hàng hóa hiện có với các dịch vụ đã được giải quyết để tiếp cận khách hàng mới và thị trường tại chỗ. Sử dụng phân tích khách hàng và bán hàng nội bộ để phân tích hành vi vận chuyển của khách hàng hiện tại và phát triển các sáng kiến ​​bán hàng chủ động.

  1. Các nền tảng cụ thể cho khách hàng

Các nền tảng cụ thể cho khách hàng là cửa hàng một điểm đến (one-stop-shop) với tất cả thông tin và tương tác của khách hàng: báo giá, thông tin vận chuyển, đặt hàng, theo dõi và truy cập và thanh toán. Bằng cách tích hợp phân tích, nền tảng này cung cấp các tính năng báo cáo tùy chỉnh để giúp khách hàng cải tiến lập kế hoạch logistics.

  1. Trung tâm in 3D

Thiết lập trung tâm in 3D tại các khu vực địa lý đầu não quan trọng để cung cấp cho khách hàng các thành phần đã hoàn thành / bán thành phẩm, được in qua LSP như là nhà sản xuất hợp đồng.

  1. Nền tảng kết hợp tải

Thiết lập và phát triển một nền tảng kết hợp tải và cước vận chuyển trực tuyến thông qua kiến ​​thức và chuyên môn toàn cầu cho phép tạo ra mối quan hệ giữa người mua và người bán – thông qua việc phát triển hoặc hợp tác với các nền tảng hiện có.

  1. Quản lý chuỗi cung ứng toàn diện

Tăng cường các dịch vụ theo chuỗi giá trị hoàn chỉnh của khách hàng – cả về phía nhà cung cấp và phía khách hàng (upstream and downstream).

Cung cấp các giải pháp chủ động, dựa trên dữ liệu khổng lồ (big data) và thuật phân tích (analytics) và kết hợp với dữ liệu bên ngoài để cung cấp những hiểu biết cần thiết cho kế hoạch kinh doanh chiến lược của khách hàng, dự báo và chủ động quản lý rủi ro.

  1. Chuyên gia thực hiện giao nhận

Cung cấp các dịch vụ được xác định rõ ràng, tập trung vào thực hiện vận tải về mặt “vật lý” (gom hàng, đóng gói, dán nhãn, vận chuyển trước chặng chính, vận chuyển chặng chính, chứng từ, v.v) trên các nền tảng trực tuyến (online platform).

Để có giá cả cạnh tranh trên các nền tảng như vậy, LSP cần phải sử dụng tự động hóa (automation) một cách rộng rãi – về mặt vật chất, trong kho / sân bãi, và về mặt ảo, cùng với quy trình kinh doanh để tối ưu hóa chi phí vận hành.

  1. Tối ưu hóa năng lực thông minh

Làm cho tài sản của riêng mình thông minh (container, tàu, xe tải, máy bay, tàu hỏa, v.v) để cho phép các dịch vụ IoT cho các hệ sinh thái logistics như là các dịch vụ bổ sung và để tối ưu hóa năng lực lập kế hoạch và quản lý của chính mình.

Mở ra giá trị

Rõ ràng rằng những người công ty lâu đời nào vẫn tiếp tục làm những gì họ luôn làm thì họ sẽ mất đi giá trị của mình. Nhưng liệu mô hình kinh doanh mới sẽ mở ra giá trị? Một số công ty số hóa trải nghiệm của khách hàng; những công ty khác thì số hóa vận hành; và còn những công ty khác nữa thì tạo ra các hệ sinh thái quan hệ đối tác có thể mở rộng, bao gồm cả đối thủ cạnh tranh, với sức mạnh tối ưu hóa các dịch vụ chuỗi cung ứng. Chìa khóa để tối đa hóa việc tạo ra giá trị là cung cấp những khả năng mới mà khách hàng dễ dàng sử dụng – thông qua các nền tảng dễ sử dụng và khả năng bán hàng trực tuyến hoặc bằng cách tận dụng các khả năng tạo kết nối để cung cấp các dịch vụ kỹ thuật số hoàn chỉnh.

Ví dụ, một nhà cung cấp dịch vụ hợp đồng có thể trở thành một đối tác kinh doanh tích hợp bằng cách sử dụng các công cụ và khả năng phân tích mới để mở rộng quan điểm của mình cho khách hàng cuối cùng. Nó có thể cung cấp thông tin chi tiết để cải thiện kế hoạch kinh doanh của khách hàng hoặc gia nhập vào lĩnh vực giao hàng chặng cuối (last-mile delivery) bằng cách giới thiệu các phương tiện giao hàng tự vận hành.

Những công ty thông minh sẽ lựa chọn một sự kết hợp của các mô hình kinh doanh, tùy thuộc vào vị trí chiến lược của họ trong chuỗi giá trị và phân đoạn khách hàng nào họ muốn giải quyết (xem hình 3).

Tăng tốc hành trình

Khả năng số là yếu tố quyết định để đáp ứng một cách thành công thách thức của sự gián đoạn kỹ thuật số. Chúng tôi tin rằng những công ty lâu đời cần phải xem xét và thúc đẩy “sự luân chuyển đến cái mới” này như là một hành động có ý thức và có chủ ý để đổi mới và chuyển đổi kinh doanh cốt lõi của họ, đồng thời phát triển thành các doanh nghiệp và dịch vụ mới.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng không một công ty nào có thể gánh nổi tổn thất nếu cứ trì hoãn chuyển đổi sang kỹ thuật số. Trong vòng ba đến năm năm tới, một sự kết hợp của các đối thủ cạnh tranh mới, sự mong đợi của khách hàng ngày càng tăng và sự thay đổi trong các tuyến thương mại toàn cầu sẽ buộc các nhà môi giới truyền thống phải chuyển đổi – hoặc là mất đi..

Vậy bạn đã sẵn sàng chưa?

Bốn bước được khuyến nghị

  1. Chuyển đổi kinh doanh cốt lõi để thúc đẩy cho sự tăng trưởng bằng cách xác định những gì cần thiết để tồn tại khả thi và tăng lợi nhuận.
  2. Phát triển kinh doanh cốt lõi để thúc đẩy tăng trưởng trong mô hình kinh doanh hiện tại bằng cách xác định những gì cần thiết hàng đầu để thúc đẩy tăng trưởng.
  3. Phát triển kinh doanh mới bằng cách xác định các hướng đi mới tiềm năng và loại bỏ các dịch vụ kinh doanh lạc hậu
  4. Quản lý hệ thống trung tâm để có những đầu tư cần thiết theo quy mô, phạm vi và một cách kịp thời.

 

—-

Nguồn: Accenture