08 LÃNG PHÍ TRONG SẢN XUẤT TINH GỌN (phần 2)

08 LÃNG PHÍ TRONG SẢN XUẤT TINH GỌN (phần 2)

Quy trình không cần thiết

Lãng phí này đề cập đến việc ta đang thực hiện nhiều bước hơn mức cần thiết. Trong một doanh nghiệp chưa áp dụng lean, bộ phận mua hàng ắt hẵn có nhiều “quá trình không cần thiết”. Để đáp ứng nhu cầu khách hàng – bộ phận mua hàng cần phải mua được hàng với mức giá thấp nhất là một ví dụ, nhiều doanh nghiệp còn gặp phải nhiều vấn đề hơn do các quy trình mua hàng phức tạp tạo ra. Và nếu hôm nay bạn phải thường trực đối mặt với việc cần nguyên vật liệu gấp hay bạn sợ phải mua hàng, thì doanh nghiệp của bạn đang có nhiều lãng phí trong quá trình mua hàng. Kanban sẽ hỗ trợ bạn và giúp bạn tránh được việc phải giải quyết từng đơn hàng một.  Thậm chí, với các phần mềm ekanban, tín hiệu nhu cầu được chuyển trực tiếp đến nhà cung ứng.

Hệ thống Kanban truyền thống không chỉ gặp nhiều khó khăn trong việc mở rộng ra bên ngoài doanh nghiệp mà còn đòi hỏi nhiều thủ tục cần thiết để chuyển các thẻ Kanban giữa các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng. Một nhà máy sản xuất khi áp dụng eKanban giúp họ giảm được 60 thủ tục, từ 66 thủ tục xuống còn 6 thủ tục. Bạn có thể tìm hiểu thêm về cách họ đã áp dụng eKanban để giảm lãng phí như thế nào ở link này.

Động tác thừa 

Khi nói về ý tưởng “siêu thị”, chúng ta đã bàn về việc loại bỏ các động tác thừa. Nhờ vào việc bố trí các nguồn cung gần với nơi cần, chúng ta đã giảm được việc phải vận chuyển giữa các nhà máy. Chúng ta cũng đã bàn về việc eKanban hỗ trợ loại bỏ một số thủ tục so với Kanban thủ công. Với giải pháp Kanban điện tử, công nhân không cần phải chuyển các thẻ kanban một cách thủ công (vật lý) từ nơi này sang nơi khác.

Các phép tính cân đối nhu cầu được thực hiện theo dữ liệu thời gian thực được hệ thống tính toán và thông báo đến các bên liên quan, qua đó, ta có thể giảm được các hành động thừa. Khi hệ thống quản lý vật tư đi sát với nhu cầu thực tế, áp lực về “hàng gấp” của bộ phận mua hàng sẽ được giảm đáng kể. Bên cạnh đó, ekanban còn góp phần hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng lực lượng lao động gắn bó với công ty lâu hơn nhờ việc giảm đi các rắc rối khi phải xử lý đơn hàng gấp.

Hàng Lỗi

Khi tồn kho quá nhiều vật tư hay sản xuất quá nhiều so với nhu cầu thực tế, hàng tồn kho có thể sẻ bị hư hại, thất lạc hay lỗi thời. Nếu doanh nghiệp không nhận diện được các vật tư hết hạn, họ sẽ phải đối mặt với các vấn đề khác. Chúng tôi có dịp làm việc với một nhà cung ưng sợi carbon để sản xuất máy bay và các phụ tùng của nó. Hầu hết các loại sợi đều có một tuổi thọ xác định và phải được bảo quản trong môi trường kiểm soát được nhiệt độ. Nếu các loại sợi này không được bảo quản và sử dụng phù hợp, chúng ta buộc phải bỏ chúng. Bằng cách triển khai hệ thống eKanban và duy trì sự tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc FIFO (nhập trước, xuất trước), các quy định bảo quản, doanh nghiệp này đã tiết kiệm được hàng triệu dollar với việc giảm được 90% số lượng sợi carbon không phù hợp.

Nguồn lực 

Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, với các doanh nghiệp sản xuất – nơi nhân viên thường rất bận và dành nhiều nỗ lực để xử lý các vấn đề đột xuất, lãng phí nguồn lực cũng rất dễ xãy ra. Một phần là vì họ không có nhiều thời gian dành cho cải tiến liên tục. Tuy nhiên, với sự hỗ trợ của hệ thống Kanban điện tử, tính hiệu nhu cầu được tự động chuyển đến nhà cung cấp, nhờ vậy, doanh nghiệp không cần tốn nhiều thời gian và công sức trong quá trình mua hàng.

Khi đó, mua hàng sẽ nghiên hơn về chiến lược. Thay vì dành nhiều thời gian giải quyết các đơn hàng khẩn hay theo dõi đơn hàng, các chuyên gia mua hàng có thể tập trung vào việc đàm phán hợp đồng và xây dựng mối quan hệ lâu dài với các nhà cung cấp – những đối tác cũng quan tâm đến hệ thế “kéo” và áp dụng lean.

“EKanban giúp gửi trực tiếp tín hiệu nhu cầu đến các nhà cung ứng, thông qua đó hỗ trợ doanh nghiệp loại bỏ các lãng phí trong quá trình mua hàng. Nếu ta nhìn rộng hơn,  toàn chuỗi cung ứng nên cùng nhau quản lý tồn kho, nhưng ngày hôm nay, chúng ta chỉ có thể giải quyết được các trường hợp đặc biệt, chứ không phải các trao đổi thường nhật – đưa việc quản lý tồn kho thành công việc của toàn chuỗi cung ứng mỗi ngày” – Kevin Dailida (Giám đốc chuỗi cung ứng cấp cao – Dynisco.

Qua đó, ta thấy được lợi ích của giải pháp Kanban điện tử trong việc loại bỏ 8 lãng phí chỉ trong vài tuần. Giải pháp này có thể đưa các quy trình của bạn lên một tầm cao mới của quản lý chuỗi cung ứng.

Nguồn: Supplychain 247

08 LÃNG PHÍ TRONG SẢN XUẤT TINH GỌN

08 LÃNG PHÍ TRONG SẢN XUẤT TINH GỌN

Bản chất của sản xuất tinh gọn thật ra chỉ là một nguyên lý đơn giản: loại bỏ nhiều nhất có thể các lãng phí trong quá trình sản xuất, và bất cứ điều gì không tạo ra giá trị cho khách hàng đều được xem là lãng phí.

Triết lý sản xuất tinh gọn được biết đến nhờ Taiichi Ohno – cha đẻ của hệ thống sản xuất Toyota (Toyota Production System – TPS). Ban đầu, ông xác định có 07 loại lãng phí cơ bản. Sau này, một loại lãng phí mới được thêm vào và từ đó, ta có 08 loại lãng phí như hiện nay:

  1. Sản xuất dư thừa
  2. Chờ đợi
  3. Tồn kho
  4. Vận chuyển
  5. Quy trình không cần thiết
  6. Động tác thừa
  7. Hàng lỗi
  8. Nguồn lực

Hiện đã có nhiều phương pháp để loại bỏ 08 loại lãng phí được liệt kê bên trên. Trong đó, có những giải pháp khá tốn kém (thời gian và nguồn lực) như thiết kế lại mặt bằng nhà xưởng, dành nhiều thời gian để dọn dẹp và tổ chức các trạm làm việc một cách tối ưu. Tuy nhiên, nếu ta cân nhắc về hiệu quả giữa nổ lực và chi phí bỏ ra với lợi ích đạt được, ta sẽ thấy giải pháp eKanban – được bàn sâu bên dưới – tiềm năng nhiều như thế nào. Thống kê hiện tại cho thấy eKanban giúp tăng 91% hiệu quả tồn kho và giảm được 50% chi phí tồn kho chỉ với 03 tháng chuyển giao và áp dụng.

Ở kì này, chúng ta sẽ bàn sâu về 04 lãng phí đầu tiên và eKanban sẽ làm được những gì để giải quyết các lãng phí đó.

Kanban thủ công

Trong hệ thống Kanban thủ công, người ta sử dụng một thẻ kanban để ra hiệu khi cần được bổ sung thêm một loại phụ tùng/nguyên vật liệu cụ thể nào đó để đáp ứng nhu cầu. Thẻ kanban này có những thông tin như tên vật tư cần, số lượng, thông tin nhà cung cấp và các dữ liệu khác liên quan. Khi lượng vật tư này trong kho giảm đi, thì số thẻ kanban xuất hiện càng nhiều, chính điều này sẽ thông báo bộ phận mua hàng chuẩn bị phù hợp.

E-Kanban – Kanban điện tử

EKanban là một ý tưởng để tự động hóa Kanban thủ công, mô hình “siêu thị”- (Supermarket), và mô hình K-loop thông qua phần mềm máy tính. Khi sử dụng mỗi vật tư, người ta quét mã vạch của nó, nhờ đó, bộ phận mua hàng có được các dữ liệu “thời gian thực” để đáp ứng hiệu quả hơn.

K-loop

K-loop là một mô hình đáp ứng trong hệ thống Kanban. Mô hình này hỗ trợ quyết định số lượng thẻ kanban tại một thời điểm, nên lấy thẻ kanban của bộ phận/nhóm nào và thông báo nhu cầu đến đâu.

Siêu thị

Siêu thị là mô hình gồm một nhóm nhiều K-loops hỗ trợ các thông tin tồn kho (vật tư, bán thành phầm, và thành phẩm) trong quá trình sản xuất và mở rộng ra bên ngoài doanh nghiệp.

Lãng phí 01: Sản xuất dư thừa – tư duy “phòng khi…”

Sản xuất dư thừa nghĩa là sản xuất quá mức cần thiết so với nhu cầu của khách hàng. Thay vì triết lý “just-in-time” (vừa kịp lúc), người ta thường áp dụng triết lý “just-in-case” (phòng khi), và đó chính là lý do để sản xuất dư thừa. Giải pháp ở đây là chuyển từ hệ thống đẩy sang hệ thống kéo – một mô hình hoàn toàn dựa theo nhu cầu thực tế của khách hàng.

Đối với các hoạt động sản xuất, Kanban điện tử chính là chìa khóa cho hệ thống kéo. Ngay khi nguyên vật liệu hay vật tư được sử dụng, Kanban điện tử sẽ lập tức truyền đi, báo hiệu nhu cầu cần được bổ sung. Tín hiệu này có thể truyền đến trực tiếp kho nguyên vật liệu hoặc nhà cung cấp nguyên vật liệu theo hợp đồng. Kanban điện tử giải quyết được những hạn chế của thẻ Kanban truyền thống, nâng chuỗi cung ứng lên thành chuỗi đáp ứng nhu cầu.

Lãng phí 02: Chờ đợi

Trong hệ thống đẩy, 90% thời gian vật tư trong xưởng ở giai đoạn chờ đợi.

Ở các nhà máy đang triển khai theo hệ thống đẩy, thời gian chờ đợi của vật tư lên đến 90% tổng thời gian sản xuất. Việc báo hiệu bổ sung (thẻ Kanban điện tử) theo hệ thống kéo có thể giảm đáng kể lượng thời gian lãng phí đó. Triển khai thẻ Kanban điện tử ở các công đoạn “thắt cổ chai” còn có thể làm giảm thời gian chờ nhiều hơn nữa vì thường hệ thống hoạch định sản xuất sắp xếp công việc theo năng lực của (các) công đoạn ràng buộc này.

Để có thể hiểu thêm mối tương hỗ giữa thẻ Kanban điện tử và quản lý công đoạn “thắt cổ chai”, video này có thể giúp bạn.

Nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp đo lường hiệu quả dòng nguyên vật liệu cũng như nổ lực giảm thời gian chờ, chúng tôi đã đề nghị một thông số tên Queue Turn (Tỉ lệ chờ đợi). Thông số này được đo bằng tỉ lệ giữa thời gian sản xuất và thời gian chờ của vật tư; nhờ vào đó, queue turn thể hiện được tình trạng nguồn lực sản xuất lãng phí cho việc chờ đợi như thế nào trong một giai đoạn xác định.

Lãng phí 03: Tồn kho (Bán thành phẩm)

Một trong những lợi ích lớn nhất của eKanban là giảm được lượng tồn kho bán thành phẩm (work-in-process) trong quá trình sản xuất.

Đối với một số công ty sản xuất, giảm lượng tồn kho (đặc biệt là tồn kho bán thành phẩm) là một trong những lợi ích rõ ràng nhất khi áp dụng hệ thống sản xuất kéo hay hệ thống sản xuất theo nhu cầu thực tế của khách hàng.

Sản xuất theo nhu cầu khách hàng là một phương pháp sản xuất dựa trên các đơn hàng thực của khách hàng (nhu cầu thực), không phải là sản xuất theo các dự báo (forecast). Phương pháp này là kết hợp giữa triết lý sản xuất tinh gọn, thuyết điểm giới hạn (Theory of Constraints – TOC) và cả 6 Sigma.

Kanban là một cơ chế thông báo trong hệ thống sản xuất theo nhu cầu thực tế của khách hàng. Giải pháp Kanban điện tử giúp cho hệ thống được cập nhật liên tục và từ đó theo sát với nhu cầu thực tế hơn. Nếu nhu cầu tăng, hệ thống sẽ phát tín hiệu báo nhu cầu ngay lặp tức, từ đó, vật tư có thể được chuẩn bị phù hợp để đáp ứng kịp thời. Nếu lượng cầu giảm, hệ thống cũng sẽ thông báo để đảm bảo lượng hàng/vật tư sản xuất không vượt quá nhu cầu thực tế.

Lãng phí 04: Vận chuyển

Ý tưởng siêu thị sẽ hỗ trợ giảm lãng phí vận chuyển và thao tác.

“Siêu thị” là một ý tưởng nền tảng của hệ thống Kanban/eKanban. Ý tưởng siêu thị ở đây vượt ra ngoài siêu thị bình thường – nơi mà bạn mua tạp hóa hằng ngày. Taiichi Ohno là người đầu tiên sử dụng cụm từ siêu thị trong sản xuất dựa trên những gì ông đã học được về cửa hàng tạp hóa tự phục vụ ở Mỹ.

Trong sản xuất, khái niệm “siêu thị” là đảm bảo lượng hàng tồn kho luôn sẵn sàng, như vậy, tất cả các trạm sản xuất sẽ không phải chờ đợi bất cứ loại vật tư cần thiết nào. Lý tưởng, “siêu thị” nên được đặt gần nhất với nơi có nhu cầu (ví dụ: ngay bên cạnh dây chuyền lắp ráp) để giảm thiểu tối đa vận chuyển. Khi một nhà cung cấp xây dựng nhà máy hoặc trung tâm phân phối của họ gần nhất có thể cho khách hàng quan của họ thì họ đã áp ứng ý tưởng siêu thị rồi.

Các nhà cung cấp được báo hiệu thông qua phần mềm eKanban khi khách hàng của họ có nhu cầu, và họ có trách nhiệm bổ sung những gì đã “kéo” đi từ “siêu thị”. Ý tưởng này cũng có thể áp dụng đối với khách hàng bên ngoài; và đôi khi, ta phải cần nhiều siêu thị cùng lúc – một vài trong số chúng thật sự là siêu thị!

[Còn tiếp…]

Nguồn: supplychain247

10 XU HƯỚNG QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG NĂM 2023 (phần 2)

10 XU HƯỚNG QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG NĂM 2023 (phần 2)

6. Tốc độ phát triển công nghệ sản phẩm quyết định số lượng và bản chất chuỗi cung ứng

Khi nghiên cứu ở một công ty hàng tiêu dùng lâu bền với hơn 70% sản phẩm có tuổi thọ ít hơn 18 tháng, 20% sản phẩm có tuổi thọ từ 3 đến 4 năm, và 10% sản phẩm có tuổi thọ lên đến 5 năm, nhóm nghiên cứu đã nhận thấy rằng tốc độ phát triển công nghệ ngày càng tăng. Thời của các sản phẩm bền và ổn định đã qua, trái lại, hiện tại, “bền” sẽ gây cho doanh nghiệp nhiều vấn đề lớn. Thật sự, nhóm nghiên cứu vẫn đang nổ lực tìm một chuỗi cung ứng duy nhất nhưng lại có thể cung cấp được nhiều loại sản phẩm với vòng đời khác nhau.

Trong tương lai, người thắng là người có có số lượng chuỗi cung ứng tương ứng với số lượng vòng đời sản phẩm họ cung cấp. Bên cạnh đó, chuỗi cung ứng cũng nên được tổ chức để đi cùng chiến lược phân khúc sản phẩm để đáp ứng được các nhu cầu riêng biệt của khách hàng.

7. Vi phân khúc (micro segmentation) là chìa khóa thành công

Bạn có thật sự hiểu khách hàng của mình hay từng phân khúc khách hàng của mình không? Và thành thật mà nói, nhiều doanh nghiệp hiện đang trả lời là “CHƯA”. Vi phân khúc được định nghĩa là một phần nhỏ và cụ thể của một danh mục sản phẩm, chính phần này sẽ thúc đẩy quyết định mua hàng của một phân khúc khách hàng xác định.

Để dễ tiếp cận hơn, ví dụ sau sẽ minh họa ở ngành phụ kiện điện thoại di động. Trong ngành này, nhóm nghiên cứu nhận thấy có rất nhiều vi phân khúc, đặc biệt là các thiết kế chỉ riêng cho một vài đối tượng khách hàng hay lắp ráp các sản phẩm chỉ hướng đến cho một số đối tượng khách hàng nhất định. Tuy nhiên, năng lục để xác định và đáp ứng được những vi phân khúc này thường nằm ngoài khả năng của chuỗi cung ứng ở những doanh nghiệp phụ kiện điện thoại di dộng.

Xa hơn, trong tương lai, doanh nghiệp cần thiết phải biết phân khúc vi mô của họ là gì, và chuỗi cung ứng của họ nhất thiết phải phục vụ hiệu quả cho chiến lược mà họ mong muốn. Tiến sĩ Sumantra Sengupta luôn khuyến cáo khách hàng của ông hãy cân nhắc việc kinh doanh theo góc độ từng khách hàng một hay chí ít là từng nhóm khách hàng một để có cái nhìn tổng thể danh mục sản phẩm của mình. Nói một cách khác, hãy áp dụng tư duy B2C thậm chí khi doanh nghiệp bạn đang ở mô hình B2B.

8. Công nghệ sẽ hỗ trợ quản trị chuỗi cung ứng sẽ luôn sẵn sàng

Dịch vụ công nghệ (software as a service – SaaS) dần nhận được sự chú ý của các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng. Chúng ta có thể thấy được hầu hết (nếu không muốn nói là toàn bộ) công nghệ chuỗi cung ứng vào năm 2020 sẽ được chuyển giao và vận hành theo kiểu “khi cần là có”.

Người dùng chỉ cần trả phí là có thể sử dụng năng lực công nghệ và sẽ không phải đầu tư nhiều vào chi phí cố định để bảo trì, nâng cấp, hay tốn nhiều tiền cho cơ sở hạ tầng công nghệ – các chi phí này đôi khi lên đến 25-30% tổng chi phí sở hữu (total cost of ownership).

Dịch vụ công nghệ sẽ nhanh chóng lan tỏa cũng như sự bùng nổ của công nghệ đám mây trong quá khứ và những lo ngại về về tính bảo mật của SaaS sẽ dần được tháo gỡ.

9. Doanh nghiệp tiên phong sẽ cân nhắc thông tin mạng xã hội cho các quy trình tiếp nhận phản hồi khách hàng

Ngày nay, dữ liệu mạng xã hội có thể được nói là ở mọi nơi. Khi làm việc với một khách hàng chuyên cung cấp sản phẩm tiêu dùng lâu bền, nhóm nghiên cứu đã phát hiện ra có khoảng 2000 website/blogs thảo luận nhiều về nhu cầu sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp này.

Tuy nhiên, doanh nghiệp này – cũng như nhiều doanh nghiệp khác – không có một phương pháp hệ thống nhằm khai thác dữ liệu cũng như chuyển thông tin hữu ích cho các bộ phận liên quan thiết kế, hoạch định, mua hàng, thu mua, sản xuất,… Rất cần thiết để có một quy trình ghi nhân phản hồi khách hàng khép kín, cho phép doanh nghiệp chủ động đáp ứng các phản hồi của khách hàng.

Người thắng là người có khả năng nhận, xử lý, và hành động (kết hợp được các bộ phân liên quan) dựa trên các dữ liệu được cung cấp bởi mạng xã hội.

10. Trí thông minh nhân tạo được “nhúng” vào các hoạt động của chuỗi cung ứng

Con người học hỏi thông quá thực hành, ghi nhận, và cải thiện những gì họ làm trong quá khứ. Tuy nhiên bằng cách nào đó, mỗi khi chúng ta xây dựng hệ thống quản trị chuỗi cung ứng, các nghiệp vụ luôn phải làm lại từ đầu mỗi khi ta thực hiện.

Nhân viên lập kế hoạch cũng thực hiện các bước tính toán tương tự mỗi khi họ lập kế hoạch, quy trình mua hàng lặp đi lặp lại khoảng 30-40% công việc đã được thực hiện trước đó. Điều này cũng diễn ra tương tự đối với các vai trò khác trong logistics hay trong hệ thống vận hành nghiệp vụ mỗi ngày.

Vấn đề hiện đang ở chỗ mỗi khi ta bắt đầu xây dựng hệ thống hay một giải pháp quản trị chuỗi cung ứng, chúng ta vẫn chưa thể có được thuật toán để hệ thống tự học và ghi nhớ các kiến thức cũng như trải nghiệp trong quá khứ. Nhóm nghiên cứu cho rằng trí thông minh nhân tạo của chuỗi cung ứng cần được nhúng để có thể tự động hóa các hoạt động trong chuỗi cung ứng hiệu quả hơn nữa.

Đánh giá các xu hướng

Để đánh giá các xu hướng này trong thực tế, nhóm nghiên cứu đã thực hiện một khảo sát nhỏ với các chuyên gia cao cấp (CEO, CFO, COO, CIO, Giám đốc chuỗi cung ứng) ở nhiều lĩnh vực khác nhau (hàng tiêu dùng, công nghiệp chế tạo, công nghệ cao, dịch vụ). Kết quả khảo sát này đảm bảo được tính cân đối của tỉ lệ ngành.

Cơ cấu ngành nghề của các đáp viên

 

Trong khảo sát, chúng tôi yêu cầu đáp viên đánh giá 10 xu hướng trên 4 tiêu chí: mức độ liên quan đến ngành nghề của họ, mức độ tác động đến hiệu quả vận hành, năng lực khai thác xu hướng, sự phức tạp khi áp dụng. Mỗi đáp viên đánh giá từ 1 đến 3 điểm cho mỗi xu hướng, điểm càng cao thì mức độ liên quan, hiệu quả tác động, khả năng khai thác hay sự phức tạp càng cao. Ở mỗi nhóm ngành, 10 đáp viên được chọn để đánh giá, dó đó 30 điểm là điểm cao nhất ở từng xu hướng.

Mức độ liên quan đến ngành

Xu hướng 1, 6, và 7 là các xu hướng có liên quan mạnh mẽ nhất đối với thực tiễn ứng dụng ở nhiều ngành.

Xu hướng 1: Chuỗi dịch vụ sẽ quan trọng hơn so với chuỗi sản phẩm.

Xu hướng 6: Tốc độ công nghệ sản phẩm quyết định số lượng và bản chất chuỗi cung ứng.

Xu hướng 7: Vi phân khúc là chìa khóa thành công.

Cả ba xu hướng này nhận được sự đồng thuận của hơn 80% đáp viên. Về bản chất, tầm quan trọng của chất lượng dịch vụ trước và sau khi bán hàng, năng lực theo dõi sản phẩm trong vòng đời công nghệ của nó cùng các hành động hỗ trợ, năng lực tập trung vào một phân khúc khách hàng được xem là các xu hướng tác động đến tất cả các nhóm ngành sản xuất. Xu hướng sử dụng công nghệ sẵn có và khai thác dữ liệu mạng xã hội được xem là những xu hướng có liên quan cao kế tiếp.

Hiệu quả hoạt động

Về hiệu quả kinh doanh, xu hướng 1 (chuỗi dịch vụ và chuỗi sản phẩm), xu hướng 4 (toàn cầu hóa các hoạt động đòi hỏi kiến thức cao), xu hướng 6 (tốc độ công nghệ sản phẩm), và xu hướng 10 (nhúng trí thông minh nhân tạo vào quản trị chuỗi cung ứng) được nhóm các đáp viên đánh giá cao. Điểm trung bình của 04 xu hướng này đều trên 75%.

Xu hướng 7 (vi phân khúc là chìa khóa của thành công) được xếp hạng cao kế tiếp với gần 70% điểm.

Kết hợp “sự liên quan” và “hiệu quả hoạt động”, ta thấy được xu hướng 1,6, và 7 có tiềm năng lớn nhất để nâng cao đường cong hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng trong nhiều ngành.

Cả ba xu hướng này đều có điểm trên 75% ở cả sự liên quan và hiệu quả hoạt động. Xu hướng 4 (toàn cầu hóa lao động tri thức) và 10 (trí tuệ nhân tạo) theo sát với điểm trên 70%.

Điều đáng ngạc nhiên ở đây là xu hướng 2 và 3 – công bố các tác động của chuỗi cung ứng và thiết kế chuỗi cung ứng cũng như sản phẩm với giá thành phù hợp với tầng lớp thấp – được đánh giá ở mức liên quan chỉ ở mức thấp hay trung bình. Sự ít liên quan của xu hướng 3 có thể là do định vị thị trường của các doanh nghiệp tham gia khảo sát ở phân khúc cao (tập trung vào thương hiện). Về xu hướng 2, hầu hết các doanh nghiệp đều đánh giá cao sự tác động của xu hướng này, thậm chí, một vài doanh nghiệp đã có những dự án cụ thể để triển khai. Tuy nhiên, nhìn chung, để công bố được các tác động của chuỗi cung ứng đòi hỏi doanh nghiệp sẽ phải đầu tư thêm, và các đáp viên xem đó là câu chuyện của tương lai xa. Về hai xu hướng này, nhiều đáp viên cho rằng nên chọn cách “chờ xem” thay vì hành động chuẩn bị.

Về hiệu quả kinh doanh, các đáp viên còn chỉ ra sự liên quan giữa xu hướng 2 và xu hướng 3 – sự liên quan đến “đường đáy” hướng đến tầng lớp thấp và trách nhiệm xã hội của chuỗi cung ứng ở các khu vực địa lý mới nổi.

Năng lực khai thác

Xu hướng 2, 6, và 8 được xếp hạng cao nhất trong khả năng ứng dụng.

Xu hướng 2: Công bố các tác động của chuỗi cung ứng là điều cần thiết.

Xu hướng 6: Vòng đời sản phẩm quyết định số lượng và bản chất chuỗi cung ứng

Xu hướng 8: Công nghệ hỗ trợ quản trị chuỗi cung ứng sẽ luôn sẵn sàng

Nhìn chung, các đánh giá mức độ áp dụng đều có mức điểm thấp hơn (điểm trung bình khoảng 55%) so với ba tiêu chí đánh giá còn lại. Điểm thú vị là các xu hướng được xếp hạng thấp nhất (về khả năng ứng dụng) với mức điểm dưới 50% liên quan đến việc áp dụng hệ thống tự học với trí thông minh nhân tạo và đưa dữ liệu mạng xã hội vào chuỗi cung ứng.

Cụ thể, một vài đáp viên thể hiện lo ngại về sự cần thiết phải liên kết nhiều dữ liệu để hệ thống AI hoạt động hiệu quả hơn.

Mức độ phức tạp khi ứng dụng

Xu hướng 1, 6, và 10 – chuỗi dịch vụ, tốc độ phát triển công nghệ, và trí thông minh nhân tạo – được đánh giá có độ phức tạp cao hơn để áp dụng so với các xu hướng còn lại (trung bình 86%). Nói một cách khác, các đáp viên nhận thấy các xu hướng này khó ứng dụng nhất, có thể là do các xu hướng này đòi hỏi sự liên kết giữa các phòng ban cao hơn so với các xu hướng còn lại.

Chuẩn hóa quy trình đào tạo (xu hướng 4) được đánh giá khó ứng dụng thứ 4, sau ba xu hướng được đề cập ở trên.

Kết luận

Các xu hướng 6, 1, và 7 là các xu hướng có liên quan lớn nhất ở nhiều ngành; điều này cho thấy các vấn đề những lãnh đạo cấp cao rất quan tâm hiện nay. Ta cũng cần lưu ý rằng, năng lực khai thác các xu hướng này cũng được đánh giá rất cao.

Nhóm trung bình – bao gồm xu hướng 2, 4 và 8 – với mức điểm cao hơn 68%, cho thấy nhóm các xu hướng này có độ liên quan và khả năng ứng dụng thấp hơn so với nhóm đầu rất ít.

Cuối cùng, các xu hướng được xếp hạng thấp được đánh giá ít liên quan hơn và khó thực hiện hơn các xu hướng còn lại. Hai vị trí cuối cùng trong bảng xếp hạng là xu hướng 3 (đáp ứng tầng lớp thấp) và xu hướng 9 (khai thác mạng xã hội).

Đặc biệt, xếp hạng của xu hướng truyền thông xã hội đã đến như một bất ngờ – vì sự cường điệu của Big Data gần đây. Tuy nhiên, kết quả đã chỉ ra Big Data là một công cụ hữu ích tuy khả năng truyền  tải dữ liệu xuyên suốt chuỗi cung ứng và năng lực ứng dụng vẫn là các thách thức lớn.

Khi nhìn lại khảo sát và giải mã suy nghĩ của các nhà quản trị, chúng ta thấy rõ năng lực xây dựng các chuỗi cung ứng khác nhau và đa dạng trên nền tảng chất lượng dịch vụ phù hợp là điều tối quan trọng. Năng lực này, cùng với vi phân khúc hiệu quả vẫn sẽ là các xu hướng chiếm lĩnh trong thực tiễn vận hành. Và tất nhiên, các xu hướng này đều có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Và cuối cùng, sẽ là một thiếu sót lớn nếu những ý tưởng được các đáp viên chia sẻ không được đề cập đến. Các hiểu biết chuyên sâu của họ từ việc xây dựng tinh thần hợp tác ở các phòng ban (mua hàng, sản xuất, giao hàng,…) và các doanh nghiệp đến cải thiện quy trình quản trị rủi ro xuyên suốt chuỗi cung ứng, các giải pháp quản lý theo thời gian thực, hay chiến lược “trì hoãn” sản phẩm.

Chờ đợi không phải là một lựa chọn tốt. Năng lực khai thác là cần thiết; tuy nhiên tiến bộ chỉ thật sự bắt đầu từ các dự báo và sự chuẩn bị cho các xu hướng được dự báo. Chúng tôi tin rằng những xu hướng này sẽ là động lực mạnh mẽ cho các thay đổi trong tương lai và khơi nguồn cho sự áp dụng rcác giải pháp mới rộng rãi. Song song đó, bạn hãy tìm hiểu thật kĩ các thách thức phía trước. Người ta phải bắt đầu ở một nơi nào đó: hãy tận hưởng hành trình của bạn!

Nguồn: Supplychain247, 7/2013.

10 XU HƯỚNG QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG ĐẾN NĂM 2023

10 XU HƯỚNG QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG ĐẾN NĂM 2023

Chuỗi cung ứng 5 năm sau sẽ như thế nào? Những xu hướng nào sẽ dẫn dắt chuỗi cũng ứng 5 năm nữa? Đây là những câu hỏi mà chính các chuyên gia quản lý chuỗi cung ứng cũng không ngừng tự hỏi họ. Mười xu hướng dưới đây đã được sự nhất trí của các chuyên gia trong quản trị chuỗi cung ứng ở nhiều nghành khác nhau.

Tháng 7.2013, khi đi ngang qua một hiệu sách, Tiến sĩ Sumantra Sengupta tình cờ thấy được quyển Corporation 2020 (Doanh nghiệp năm 2020) của Pavan Sukhdev. Tựa đề quyển sách đã thu hút và thấp lên trong ông những suy nghĩ thú vị về tương lai.

Về quyển sách này, một cách đơn giản, Sukhdev giới thiệu đến độc giả “công thức” để kinh doanh thành công với đầy đủ các loại gia vị; trong đó, ông dành nhiều thời gian để viết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và kinh doanh bền vững. Chính quyển sách của Sukhdev đã cho tiến sĩ Sengupta một niềm cảm hứng lớn để bắt đầu bài viết này. Một phần trong đây – tương lai quản trị chuỗi cung ứng – thật ra đã được bắt đầu viết từ nhiều năm trước. Dự án Quản trị chuỗi cung ứng năm 2020 của MIT là một ví dụ, dự án này đã quy tụ được nhiều nhà tiên phong trong nghiên cứu cũng như thực tiễn vận hành.

Tuy nhiên, nghiên cứu của MIT hay nhiều nghiên cứu khác đều tập trung vào việc vận hành chuỗi cung ứng, và rất ít đề cập về các “điểm giao” – những hoạt động bên ngoài chuỗi cung ứng như R&D, công nghệ thông tin hay dịch vụ hậu mãi. Trong danh sách này, tôi có cân nhắc đến những “điểm giao” quan trọng này.

Khi nghĩ về những xu hướng lớn có thể tác động đến quản trị chuỗi cung ứng trong giai đoạn sắp tới, các yếu tố kinh tế vĩ mô nên được cân nhắc. Và yếu tố vĩ mô nổi bật nhất chính là sự thay đổi trong cơ cấu nhân chủng học trong nền kinh tế toàn cầu.

Và nếu bạn có để ý đến các công ty sản xuất hay công ty hàng tiêu dùng nhanh đa quốc gia, thì chắc hẵn bạn sẽ biết đến thị trường BRIC (Brazil, Russia, India, and China). Tốc độ phát triển GDP ở thị trường BRIC đã vượt xa tốc độ phát triển của thị trường các quốc gia phát triển. Chỉ riêng người tiêu dùng của nhóm thị trường BRIC này thôi đã chiếm khoảng 40% dân số thế giới rồi. Và đến năm 2050, nền kinh tế của nhóm các quốc gia này ước tính sẽ vượt qua cả các quốc gia giàu nhất hiện tại, kể cả Hoa Kỳ và Châu Âu.

Ngoài ra, tình trạng thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao cũng là một điểm vĩ mô cần cân nhắc. Các nghiên cứu gần đây chỉ ra tình trạng thiếu nguồn nhân lực đã bắt đầu được diễn ra. Một phần sự thiếu hụt này (trong ngắn hạn) có thể được bù đắp nếu thế hệ Baby Boomers muốn (hay cần) việc làm lâu hơn sau các dư chấn đại suy thoái. Tuy vậy, dù trong bất kì tình huống nào, sự thiếu nhân lực chất lượng cao cũng sẽ tạo nên một xu hướng, được liệt kê bên dưới.

Sengupta đã có một vài bài thảo luận “10 sai lầm điển hình trong quản trị chuỗi cung ứng” (Top 10 Supply Chain Mistakes) được đăng trên tạp chí Supply Chain Management Review vào tháng 7-8.2014. Với cùng lối tiếp cận đó – xác định 10 điểm điển hình, ông tiếp tục viết bài này – 10 xu hướng quản trị chuỗi cung ứng điển hình.

Danh sách này được xây dựng dựa trên các nghiên cứu của Tiến sĩ Sumantra Sengupta cùng với sự tham vấn với các doanh nghiệp ở nhiều ngành khác nhau. Các xu hướng này đều được xem xét cẩn trọng bởi một nhóm các chuyên gia cao cấp trong lĩnh vực quản trị chuỗi cung ứng cũng như các lĩnh vực liên quan trong quản trị doanh nghiệp và đảm bảo được tính phổ quát đa ngành. Mục tiêu của nghiên cứu này là có được một bộ cơ sỡ dữ liệu thực tiễn phù hợp và đánh giá được năng lực ứng dụng của mỗi xu hướng đối với từng doanh nghiệp/ ngành cụ thể.

10 xu hướng quản trị chuỗi cung ứng trong 5 năm tới

1. Chuỗi dịch vụ sẽ quan trọng hơn so với chuỗi sản phẩm

Ở nhiều ngành (nếu không muốn nói là ở hầu hết tất cả các ngành), luật chơi được viết bởi người tiên phong. Và khi quyết định mua hàng, khách hàng ngày càng quan tâm đến chất lượng dịch vụ trước và sau thời điểm bán hàng.

Từ đó, các nổ lực kết hợp hiệu quả các dịch vụ trước và sau khi bán hàng (bao gồm thông tin sản phẩm, chất lượng dịch vụ cửa hàng, bảo hành, và dịch vụ hậu mãi) ngày càng được chú ý. Nhiều doanh nghiệp đã làm được điều này, và dần họ đạt được nhiều lợi thế cạnh tranh hơn so với các đối thủ chỉ chú trọng vào sản phẩm.

Thông điệp này được nhấn mạnh bởi Tim Cook – Apple CEO trong lời xin lỗi gửi đến người tiêu dùng Trung Quốc của ông vì các thiếu sót của Apply trong dịch vụ hậu mãi.

Đây là một ví dụ điển hình của một công ty lớn với sản phẩm tiên phong đầu ngành nhưng đôi lúc thiếu chú trọng đến khách hàng (khách hàng vẫn rất là quan trọng!). Cuối cùng, tất nhiên, sản phẩm đi kèm với dịch vụ tốt (ở đây là dịch vụ sữa chữa và bảo hành) vẫn tốt hơn nhiều so với chỉ sản phẩm tốt.

2.Doanh nghiệp cần phải công bố đầy đủ về các tác động của chuỗi cung ứng

Trong quyển Doanh nghiệp năm 2020, Sukhdev đã viết rất kĩ về các tác động bên ngoài của một doanh nghiệp – được định nghĩa là các tác động của một doanh nghiệp trong quá trình sản xuất hoặc kinh doanh lên xã hội – và sự cần thiết phải công bố các tác động đó.

Mặc dù một số chuỗi cung ứng đã có các hành động rõ ràng để đảm báo tính bền vững cũng như cắt giảm lượng khí thải CO2, các chuỗi cung ứng được kì vọng còn phải nổ lực hơn nữa trong việc công bố các tác động xuyên suốt của mình.

Nói một cách khác, doanh nghiệp cần đo lường và công bố tác động của mình: số lượng việc làm tạo ra cho xã hội, lượng khí thải giảm được, xây dựng quy trình mua hàng bền vững, sử dụng lực lượng lao động và các loại hình vận tải phù hợp.

Không xa nữa, khách hàng/người tiêu dùng sẽ quan tâm đến tính minh bạch, sự chia sẻ các tác động của chuỗi cung ứng được in trên nhãn sản phẩm.

3. Chuỗi cung ứng nên được thiết kế để phục vụ tầng lớp thấp (“base of pyramid”)

Cố giáo sư C.K. Prahlad tác giả quyển The Fortune at the Bottom of the Pyramid (Kho báu bên dưới kim tự tháp), sau này từ “bottom” được thay thế bằng từ “base” và tác phẩm được biết đến rộng rãi hơn với “base”.

Quyển sách đã chỉ ra tiềm năng thị trường toàn cầu với hơn 5 tỷ người có thu nhập ít hơn $2.000/năm. Để đáp ứng được thị trường này, các doanh nghiệp dù ở ngành hàng tiêu dùng nhanh hay hàng lâu bền cũng phải phát triển các sản phẩm phù hợp tương ứng.

Để khai thác được tiềm năng to lớn đó, chuỗi cung ứng cần có triết lý thiết kế hoàn toàn tối ưu với một “đường đáy” (bottom line) bền vững. Theo tư duy quản lý chuỗi cung ứng hiện tại, phần lớn giá được tính dựa trên mô hình Giá vốn cộng lãi (cost plus) và ngày mai nó nên được thay thế bằng mô hình chi phí “tối ưu” (not to exceed).

4. Công việc và nhân viên được toàn cầu hóa là điều tất yếu trong chuỗi cung ứng

Công việc đòi hỏi tri thức chiếm khoảng 40% tổng số giờ lao động trong chuỗi cung ứng hiện nay. Phần lớn các công việc này liên quan đến việc phân tích các vấn đề phức tạp, lập kế hoạch, mua hàng, và cung cấp các dịch vụ liên quan.

Với bản chất công việc, môi trường làm việc đa ngôn ngữ và sự phức hợp nhiều vị trí địa lý phục vụ khách hàng khác nhau, công việc luôn đòi hỏi nhân viên phải có kiến thức toàn cầu hóa toàn vẹn.

Ví dụ, ta có thể dễ dàng thấy được một công ty có trụ sở ở Hoa Kỳ lên kế hoạch sản xuất ở Phillippines, mua hàng ở Singapore, và phân tích hiệu quả kinh doanh toàn cầu ở Brazil.

5. Quản lý chuỗi cung ứng cũng sẽ có chứng chỉ nghiệp vụ tương tự (như CPAs)

Bên cạnh chương trình đào tạo đại học và sau đại học quản trị chuỗi cung ứng được cung cấp bởi các trường đại học học, một số tổ chức chuyên nghiệp như APICS, CSCMP hay ISM cũng cung cấp chương trình đào tạo và cấp chứng chỉ nghiệp vụ.

Tuy nhiên, hầu hết, các chương trình này chỉ tập trung vào “quản lý chuỗi cung ứng căn bản” hay một vài nghiệp vụ cụ thể như “xuất nhập khẩu”, “phân tích tài chính”. Chúng tôi tin chắc ràng, tương lai sẽ có một chuyển biến lớn về kết quả, nội dung chương trình, và cả các chứng chỉ quản lý chuỗi cung ứng chuyên nghiệp.

Đối với một số chứng chỉ khác như CPA (Certified Public Accountant) với kế toán, PE (Professional Engineers) với kĩ sư, người dự thi còn phải trải qua các vòng thi toàn quốc cũng như tiếp tục học thêm về nghiệp vụ (được đo lường bằng số giờ cụ thể mỗi năm). Chúng tôi nghĩ rằng chương trình đào tạo nghiệp vụ mới với hệ thống tín chỉ sẽ được áp dụng trong lĩnh vực quản lý chuỗi cung ứng chuyên nghiệp để bình thường hóa các kiến thức cơ bản từ nhiều học liệu khác nhau.

[Còn tiếp …]

Nguồn: Supplychain247, 7/2013

QUẢN LÝ CHUỖI CUNG ỨNG NĂM 2018 – DỰ BÁO CỦA GARTNER

QUẢN LÝ CHUỖI CUNG ỨNG NĂM 2018 – DỰ BÁO CỦA GARTNER

“Đón nhận và đầu tư vào các công nghệ đang nổi lên sẽ giúp doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh” – Gartner

Nhiều năm trước đây, người ta vẫn còn mãi tranh luận liệu công nghệ có nên được coi là lợi thế cạnh tranh trong quản lý chuỗi cung ứng (supply chain management – SCM) hay không. Và giờ đây, đó chỉ là chuyện của nhiều năm trước. Theo một nghiên cứu của Gartner: 65% chuyên gia SCM đã trả lời CÓ với câu hỏi – liệu ứng dụng các công nghệ mới nổi có nên được xem là một lợi thế cạnh tranh trong quản lý chuỗi cung ứng hay không.

Tiếp theo đó, báo cáo Gartner Predicts 2018 – Future of Supply Chain Operations đã vẽ ra bức tranh của sự kết nối giữa các công nghệ mới đột phá (từ trí tuệ nhân tạo AI đến blockchain) với chiến lược cạnh tranh và quản lý chuỗi cung ứng. Một tín hiệu cho thấy định hướng công nghệ cao trong SCM.

Dwight Klappich, phó chủ tịch mảng nghiên cứu của Gartner, cho biết: “Chắc chắn công nghệ mới có thể nâng cao được hiệu quả vận hành cũng như chất lượng dịch vụ, và tất nhiên, nó sẽ đưa quản lý chuỗi cung ứng lên một tầm cao mới. Như 90% các doanh nghiệp ở giai đoạn phát triển 4-5 sẽ hoạt động hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác trong ngành, và nhiều doanh nghiệp trong số đó được xem là doanh nghiệp đầu ngành.”

Robot di động tự vận hành (Autonomous Mobile Robots –AMRs)

“Đến năm 2021, 1/10 nhân viên kho truyền thống sẽ được thay thế bằng một robot tự vận hành.”

AMRs là một giải pháp mới và đầy sáng tạo để thay thế những thiết bị vận tải cũ kĩ trong kho được sử dụng từ những năm 1950s. Robot tự hành còn có thể trả lời được các câu hỏi về áp lực chi phí quản lý và chi phí nhân công kho bãi ở Châu Âu, Nhật, và Bắc Mỹ. Hiện tại, khả năng “nâng hàng” kém là cản trở duy nhất trong việc áp dụng robot tự hành. Và chắc chắn, khi giải pháp này đáp ứng được nhu cầu nâng hàng cần thiết trong kho, ngày mà AMRs thay thế các nhân viên kho truyền thống sẽ không còn xa nữa.

Lời khuyên: nếu bạn không sẵn sàng để áp dụng các công nghệ mới, hãy theo dõi thị trường, tham khảo những doanh nghiệp tiên phong trong ngành và áp dụng thử nghiệm để có được những kiến thức thực tiễn nhất.

Các giải pháp ​​trí tuệ nhân tạo (AI) tạm thời bị đình trệ…

“Đến năm 2021, 3/5 giải pháp AI ở các công ty đầu ngành với quy mô toàn cầu sẽ bì đình trệ vì vẫn chưa có được các nhân viên với kĩ năng phù hợp.”

Tiềm năng nâng cao hiệu quả vận hành của AI đã khiến giải pháp này trở thành hướng đi lớn cho nhiều doanh nghiệp sản xuất. Giải pháp AI sẽ giúp các doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí nhân công ở nhiều công đoạn sản xuất. Tuy nhiên, ở một vài công đoạn khác, AI đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của các chuyên gia, như giai đoạn tổng lọc nội dung (content curation) hay khai thác dữ liệu (data ingestion). Và số lượng các chuyên gia như vậy vẫn còn rất hạn chế trong ngành. Điều này đã tạo nhiều áp lực lên các doanh nghiệp để họ có thể xây dựng được một đội ngũ nhân viên phù hợp với các kĩ năng cần thiết. Nếu không làm được điều này, tiến độ áp dụng các giải pháp AI ít nhiều sẽ bị tác động xấu.

Lời khuyên: doanh nghiệp cần phải xây dựng một cơ chế để quản lý hiệu quả tri thức, phát triển năng lực nhân viên một cách tốt nhất, và xác định lại các kĩ năng làm việc với dữ liệu cần thiết để vận hành sản xuất.

Giai đoạn thử nghiệm các giải pháp blockchain

“Đến năm 2020, 90% các giải pháp trên nền tảng blockchain sẽ bước vào giai đoạn thử nghiệm – đánh giá tính khả thi.”

Hiện nay, các chuyên gia quản lý chuỗi cung ứng rất qua tâm về nền tảng “blockchain”. Tuy vậy, nền tảng công nghệ này vẫn chưa được phát triển đầy đủ. Các vấn đề về thử nghiệm đánh giá tính khả thi đang được đặt ra; nhiều chuỗi cung ứng đang thiết kế các nghiên cứu áp dụng thí điểm giải pháp blockchain liên ngành, ở nhiều địa điểm, với nhiều loại sản phẩm khác nhau. Theo dự đoán của Gartner, trong những năm sắp tới, giải pháp trên nền tảng blockchain vẫn chỉ ở giai đoạn thử nghiệm mức độ khả thi, thậm chí khi các rào cản lớn (như hệ sinh thái kinh doanh, luật pháp, chính phủ, hệ thống xác thực) được gỡ bỏ.

Lời khuyên: hãy dành thời gian để đánh giá năng lực, khả năng ứng dụng và giá trị của giải pháp trên nền tảng blockchain đối với chuỗi cung ứng của bạn trước khi dấn thân vào blockchain.

Trợ lý khách hàng ảo (Virtual Customer Assistants – VCAs)

“Đến năm 2021, ước tính 20% của tất cả các tương tác dịch vụ khách hàng sẽ được xử lý bởi các trợ lý khách hàng ảo hay chatbot.”

Hiện nay, trợ lý khách hàng ảo hay chatbots xử lý khoảng 2% các tương tác với khách hàng. Và ước tính trong 4 năm kế tiếp, con số này sẽ tăng lên 10 lần. Với sự hỗ trợ của công nghệ, trợ lý ảo ngày càng “thật” hơn – đồng cảm hơn, hiểu biết hơn, có năng lực xử lý các tương tác phức tạp cao hơn hay thậm chí không cần sự can thiệp của con người. Sự chuyển đổi này sẽ được nhìn thấy rõ vào đầu năm 2018 khi các doanh nghiệp đầu ngành như Amazon, IBM và Salesforce tung ra thị trường một nền tảng AI mới. VCA sẽ cho doanh nghiệp một lựa chọn mới, ít tốn kém hơn và nhanh hơn so với giải pháp con người hiện tại.

Lời khuyên: hãy khám phá năng lực giải pháp VCAs để hiểu hơn về tính ứng dụng và lợi ích mà nền tảng AI này mang lại cho dịch vụ khách hàng.

Nguồn: Gartner, 12/2017

GẶP GỠ GREY ORANGE – ĐỐI TÁC ROBOT TỰ ĐỘNG CỦA SMARTLOG

GẶP GỠ GREY ORANGE – ĐỐI TÁC ROBOT TỰ ĐỘNG CỦA SMARTLOG

Đại diện Smartlog, Anh Trần Duy Khiêm tặng quà cho đại diện Grey Orange.

 

Vào ngày 26 – 27/03/2018 vừa qua,  Grey Orange – đối tác hàng đầu trong lĩnh vực Robot tự động của Smartlog đã gặp gỡ và chia sẻ cho các bạn Smartlog về giải pháp BulterSorter tự động trong kho vận.

Ông Satyanarayana (đại diện Grey Orange) đã mang tới Smartlog những kiến thức vô cùng mới mẻ trong việc áp dụng Robot tự động để soạn hàng, đưa hàng và vận chuyển hàng vào kho, cùng các dự án mà Grey Orange đã triển khai thành công ở Singapore, Ấn Độ,….

Smartlog rất tự hào khi trở thành đối tác chiến lược của Grey Orange tại Việt Nam, cung cấp các giải pháp về tự động hóa trong kho vận, giúp các doanh nghiệp kinh doanh kho vận nâng cao năng lực cạnh tranh trong thị trường Logistics.

Sau đây xin gửi tới một vài hình ảnh về buổi chia sẻ giải pháp của Grey Orange:

Grey Orange gặp gỡ và chia sẻ với Smartlog (ảnh 1)

 

Grey Orange gặp gỡ và chia sẻ với Smartlog (ảnh 2)

 

Grey Orange gặp gỡ và chia sẻ với Smartlog (ảnh 3)

 

Grey Orange gặp gỡ và chia sẻ với Smartlog (ảnh 4)

 

Grey Orange gặp gỡ và chia sẻ với Smartlog (ảnh 5)

 

Về Grey Orange, bạn có thể xem thêm ở đây.