10 XU HƯỚNG QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG NĂM 2023 (phần 2)

10 XU HƯỚNG QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG NĂM 2023 (phần 2)

6. Tốc độ phát triển công nghệ sản phẩm quyết định số lượng và bản chất chuỗi cung ứng

Khi nghiên cứu ở một công ty hàng tiêu dùng lâu bền với hơn 70% sản phẩm có tuổi thọ ít hơn 18 tháng, 20% sản phẩm có tuổi thọ từ 3 đến 4 năm, và 10% sản phẩm có tuổi thọ lên đến 5 năm, nhóm nghiên cứu đã nhận thấy rằng tốc độ phát triển công nghệ ngày càng tăng. Thời của các sản phẩm bền và ổn định đã qua, trái lại, hiện tại, “bền” sẽ gây cho doanh nghiệp nhiều vấn đề lớn. Thật sự, nhóm nghiên cứu vẫn đang nổ lực tìm một chuỗi cung ứng duy nhất nhưng lại có thể cung cấp được nhiều loại sản phẩm với vòng đời khác nhau.

Trong tương lai, người thắng là người có có số lượng chuỗi cung ứng tương ứng với số lượng vòng đời sản phẩm họ cung cấp. Bên cạnh đó, chuỗi cung ứng cũng nên được tổ chức để đi cùng chiến lược phân khúc sản phẩm để đáp ứng được các nhu cầu riêng biệt của khách hàng.

7. Vi phân khúc (micro segmentation) là chìa khóa thành công

Bạn có thật sự hiểu khách hàng của mình hay từng phân khúc khách hàng của mình không? Và thành thật mà nói, nhiều doanh nghiệp hiện đang trả lời là “CHƯA”. Vi phân khúc được định nghĩa là một phần nhỏ và cụ thể của một danh mục sản phẩm, chính phần này sẽ thúc đẩy quyết định mua hàng của một phân khúc khách hàng xác định.

Để dễ tiếp cận hơn, ví dụ sau sẽ minh họa ở ngành phụ kiện điện thoại di động. Trong ngành này, nhóm nghiên cứu nhận thấy có rất nhiều vi phân khúc, đặc biệt là các thiết kế chỉ riêng cho một vài đối tượng khách hàng hay lắp ráp các sản phẩm chỉ hướng đến cho một số đối tượng khách hàng nhất định. Tuy nhiên, năng lục để xác định và đáp ứng được những vi phân khúc này thường nằm ngoài khả năng của chuỗi cung ứng ở những doanh nghiệp phụ kiện điện thoại di dộng.

Xa hơn, trong tương lai, doanh nghiệp cần thiết phải biết phân khúc vi mô của họ là gì, và chuỗi cung ứng của họ nhất thiết phải phục vụ hiệu quả cho chiến lược mà họ mong muốn. Tiến sĩ Sumantra Sengupta luôn khuyến cáo khách hàng của ông hãy cân nhắc việc kinh doanh theo góc độ từng khách hàng một hay chí ít là từng nhóm khách hàng một để có cái nhìn tổng thể danh mục sản phẩm của mình. Nói một cách khác, hãy áp dụng tư duy B2C thậm chí khi doanh nghiệp bạn đang ở mô hình B2B.

8. Công nghệ sẽ hỗ trợ quản trị chuỗi cung ứng sẽ luôn sẵn sàng

Dịch vụ công nghệ (software as a service – SaaS) dần nhận được sự chú ý của các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng. Chúng ta có thể thấy được hầu hết (nếu không muốn nói là toàn bộ) công nghệ chuỗi cung ứng vào năm 2020 sẽ được chuyển giao và vận hành theo kiểu “khi cần là có”.

Người dùng chỉ cần trả phí là có thể sử dụng năng lực công nghệ và sẽ không phải đầu tư nhiều vào chi phí cố định để bảo trì, nâng cấp, hay tốn nhiều tiền cho cơ sở hạ tầng công nghệ – các chi phí này đôi khi lên đến 25-30% tổng chi phí sở hữu (total cost of ownership).

Dịch vụ công nghệ sẽ nhanh chóng lan tỏa cũng như sự bùng nổ của công nghệ đám mây trong quá khứ và những lo ngại về về tính bảo mật của SaaS sẽ dần được tháo gỡ.

9. Doanh nghiệp tiên phong sẽ cân nhắc thông tin mạng xã hội cho các quy trình tiếp nhận phản hồi khách hàng

Ngày nay, dữ liệu mạng xã hội có thể được nói là ở mọi nơi. Khi làm việc với một khách hàng chuyên cung cấp sản phẩm tiêu dùng lâu bền, nhóm nghiên cứu đã phát hiện ra có khoảng 2000 website/blogs thảo luận nhiều về nhu cầu sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp này.

Tuy nhiên, doanh nghiệp này – cũng như nhiều doanh nghiệp khác – không có một phương pháp hệ thống nhằm khai thác dữ liệu cũng như chuyển thông tin hữu ích cho các bộ phận liên quan thiết kế, hoạch định, mua hàng, thu mua, sản xuất,… Rất cần thiết để có một quy trình ghi nhân phản hồi khách hàng khép kín, cho phép doanh nghiệp chủ động đáp ứng các phản hồi của khách hàng.

Người thắng là người có khả năng nhận, xử lý, và hành động (kết hợp được các bộ phân liên quan) dựa trên các dữ liệu được cung cấp bởi mạng xã hội.

10. Trí thông minh nhân tạo được “nhúng” vào các hoạt động của chuỗi cung ứng

Con người học hỏi thông quá thực hành, ghi nhận, và cải thiện những gì họ làm trong quá khứ. Tuy nhiên bằng cách nào đó, mỗi khi chúng ta xây dựng hệ thống quản trị chuỗi cung ứng, các nghiệp vụ luôn phải làm lại từ đầu mỗi khi ta thực hiện.

Nhân viên lập kế hoạch cũng thực hiện các bước tính toán tương tự mỗi khi họ lập kế hoạch, quy trình mua hàng lặp đi lặp lại khoảng 30-40% công việc đã được thực hiện trước đó. Điều này cũng diễn ra tương tự đối với các vai trò khác trong logistics hay trong hệ thống vận hành nghiệp vụ mỗi ngày.

Vấn đề hiện đang ở chỗ mỗi khi ta bắt đầu xây dựng hệ thống hay một giải pháp quản trị chuỗi cung ứng, chúng ta vẫn chưa thể có được thuật toán để hệ thống tự học và ghi nhớ các kiến thức cũng như trải nghiệp trong quá khứ. Nhóm nghiên cứu cho rằng trí thông minh nhân tạo của chuỗi cung ứng cần được nhúng để có thể tự động hóa các hoạt động trong chuỗi cung ứng hiệu quả hơn nữa.

Đánh giá các xu hướng

Để đánh giá các xu hướng này trong thực tế, nhóm nghiên cứu đã thực hiện một khảo sát nhỏ với các chuyên gia cao cấp (CEO, CFO, COO, CIO, Giám đốc chuỗi cung ứng) ở nhiều lĩnh vực khác nhau (hàng tiêu dùng, công nghiệp chế tạo, công nghệ cao, dịch vụ). Kết quả khảo sát này đảm bảo được tính cân đối của tỉ lệ ngành.

Cơ cấu ngành nghề của các đáp viên

 

Trong khảo sát, chúng tôi yêu cầu đáp viên đánh giá 10 xu hướng trên 4 tiêu chí: mức độ liên quan đến ngành nghề của họ, mức độ tác động đến hiệu quả vận hành, năng lực khai thác xu hướng, sự phức tạp khi áp dụng. Mỗi đáp viên đánh giá từ 1 đến 3 điểm cho mỗi xu hướng, điểm càng cao thì mức độ liên quan, hiệu quả tác động, khả năng khai thác hay sự phức tạp càng cao. Ở mỗi nhóm ngành, 10 đáp viên được chọn để đánh giá, dó đó 30 điểm là điểm cao nhất ở từng xu hướng.

Mức độ liên quan đến ngành

Xu hướng 1, 6, và 7 là các xu hướng có liên quan mạnh mẽ nhất đối với thực tiễn ứng dụng ở nhiều ngành.

Xu hướng 1: Chuỗi dịch vụ sẽ quan trọng hơn so với chuỗi sản phẩm.

Xu hướng 6: Tốc độ công nghệ sản phẩm quyết định số lượng và bản chất chuỗi cung ứng.

Xu hướng 7: Vi phân khúc là chìa khóa thành công.

Cả ba xu hướng này nhận được sự đồng thuận của hơn 80% đáp viên. Về bản chất, tầm quan trọng của chất lượng dịch vụ trước và sau khi bán hàng, năng lực theo dõi sản phẩm trong vòng đời công nghệ của nó cùng các hành động hỗ trợ, năng lực tập trung vào một phân khúc khách hàng được xem là các xu hướng tác động đến tất cả các nhóm ngành sản xuất. Xu hướng sử dụng công nghệ sẵn có và khai thác dữ liệu mạng xã hội được xem là những xu hướng có liên quan cao kế tiếp.

Hiệu quả hoạt động

Về hiệu quả kinh doanh, xu hướng 1 (chuỗi dịch vụ và chuỗi sản phẩm), xu hướng 4 (toàn cầu hóa các hoạt động đòi hỏi kiến thức cao), xu hướng 6 (tốc độ công nghệ sản phẩm), và xu hướng 10 (nhúng trí thông minh nhân tạo vào quản trị chuỗi cung ứng) được nhóm các đáp viên đánh giá cao. Điểm trung bình của 04 xu hướng này đều trên 75%.

Xu hướng 7 (vi phân khúc là chìa khóa của thành công) được xếp hạng cao kế tiếp với gần 70% điểm.

Kết hợp “sự liên quan” và “hiệu quả hoạt động”, ta thấy được xu hướng 1,6, và 7 có tiềm năng lớn nhất để nâng cao đường cong hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng trong nhiều ngành.

Cả ba xu hướng này đều có điểm trên 75% ở cả sự liên quan và hiệu quả hoạt động. Xu hướng 4 (toàn cầu hóa lao động tri thức) và 10 (trí tuệ nhân tạo) theo sát với điểm trên 70%.

Điều đáng ngạc nhiên ở đây là xu hướng 2 và 3 – công bố các tác động của chuỗi cung ứng và thiết kế chuỗi cung ứng cũng như sản phẩm với giá thành phù hợp với tầng lớp thấp – được đánh giá ở mức liên quan chỉ ở mức thấp hay trung bình. Sự ít liên quan của xu hướng 3 có thể là do định vị thị trường của các doanh nghiệp tham gia khảo sát ở phân khúc cao (tập trung vào thương hiện). Về xu hướng 2, hầu hết các doanh nghiệp đều đánh giá cao sự tác động của xu hướng này, thậm chí, một vài doanh nghiệp đã có những dự án cụ thể để triển khai. Tuy nhiên, nhìn chung, để công bố được các tác động của chuỗi cung ứng đòi hỏi doanh nghiệp sẽ phải đầu tư thêm, và các đáp viên xem đó là câu chuyện của tương lai xa. Về hai xu hướng này, nhiều đáp viên cho rằng nên chọn cách “chờ xem” thay vì hành động chuẩn bị.

Về hiệu quả kinh doanh, các đáp viên còn chỉ ra sự liên quan giữa xu hướng 2 và xu hướng 3 – sự liên quan đến “đường đáy” hướng đến tầng lớp thấp và trách nhiệm xã hội của chuỗi cung ứng ở các khu vực địa lý mới nổi.

Năng lực khai thác

Xu hướng 2, 6, và 8 được xếp hạng cao nhất trong khả năng ứng dụng.

Xu hướng 2: Công bố các tác động của chuỗi cung ứng là điều cần thiết.

Xu hướng 6: Vòng đời sản phẩm quyết định số lượng và bản chất chuỗi cung ứng

Xu hướng 8: Công nghệ hỗ trợ quản trị chuỗi cung ứng sẽ luôn sẵn sàng

Nhìn chung, các đánh giá mức độ áp dụng đều có mức điểm thấp hơn (điểm trung bình khoảng 55%) so với ba tiêu chí đánh giá còn lại. Điểm thú vị là các xu hướng được xếp hạng thấp nhất (về khả năng ứng dụng) với mức điểm dưới 50% liên quan đến việc áp dụng hệ thống tự học với trí thông minh nhân tạo và đưa dữ liệu mạng xã hội vào chuỗi cung ứng.

Cụ thể, một vài đáp viên thể hiện lo ngại về sự cần thiết phải liên kết nhiều dữ liệu để hệ thống AI hoạt động hiệu quả hơn.

Mức độ phức tạp khi ứng dụng

Xu hướng 1, 6, và 10 – chuỗi dịch vụ, tốc độ phát triển công nghệ, và trí thông minh nhân tạo – được đánh giá có độ phức tạp cao hơn để áp dụng so với các xu hướng còn lại (trung bình 86%). Nói một cách khác, các đáp viên nhận thấy các xu hướng này khó ứng dụng nhất, có thể là do các xu hướng này đòi hỏi sự liên kết giữa các phòng ban cao hơn so với các xu hướng còn lại.

Chuẩn hóa quy trình đào tạo (xu hướng 4) được đánh giá khó ứng dụng thứ 4, sau ba xu hướng được đề cập ở trên.

Kết luận

Các xu hướng 6, 1, và 7 là các xu hướng có liên quan lớn nhất ở nhiều ngành; điều này cho thấy các vấn đề những lãnh đạo cấp cao rất quan tâm hiện nay. Ta cũng cần lưu ý rằng, năng lực khai thác các xu hướng này cũng được đánh giá rất cao.

Nhóm trung bình – bao gồm xu hướng 2, 4 và 8 – với mức điểm cao hơn 68%, cho thấy nhóm các xu hướng này có độ liên quan và khả năng ứng dụng thấp hơn so với nhóm đầu rất ít.

Cuối cùng, các xu hướng được xếp hạng thấp được đánh giá ít liên quan hơn và khó thực hiện hơn các xu hướng còn lại. Hai vị trí cuối cùng trong bảng xếp hạng là xu hướng 3 (đáp ứng tầng lớp thấp) và xu hướng 9 (khai thác mạng xã hội).

Đặc biệt, xếp hạng của xu hướng truyền thông xã hội đã đến như một bất ngờ – vì sự cường điệu của Big Data gần đây. Tuy nhiên, kết quả đã chỉ ra Big Data là một công cụ hữu ích tuy khả năng truyền  tải dữ liệu xuyên suốt chuỗi cung ứng và năng lực ứng dụng vẫn là các thách thức lớn.

Khi nhìn lại khảo sát và giải mã suy nghĩ của các nhà quản trị, chúng ta thấy rõ năng lực xây dựng các chuỗi cung ứng khác nhau và đa dạng trên nền tảng chất lượng dịch vụ phù hợp là điều tối quan trọng. Năng lực này, cùng với vi phân khúc hiệu quả vẫn sẽ là các xu hướng chiếm lĩnh trong thực tiễn vận hành. Và tất nhiên, các xu hướng này đều có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Và cuối cùng, sẽ là một thiếu sót lớn nếu những ý tưởng được các đáp viên chia sẻ không được đề cập đến. Các hiểu biết chuyên sâu của họ từ việc xây dựng tinh thần hợp tác ở các phòng ban (mua hàng, sản xuất, giao hàng,…) và các doanh nghiệp đến cải thiện quy trình quản trị rủi ro xuyên suốt chuỗi cung ứng, các giải pháp quản lý theo thời gian thực, hay chiến lược “trì hoãn” sản phẩm.

Chờ đợi không phải là một lựa chọn tốt. Năng lực khai thác là cần thiết; tuy nhiên tiến bộ chỉ thật sự bắt đầu từ các dự báo và sự chuẩn bị cho các xu hướng được dự báo. Chúng tôi tin rằng những xu hướng này sẽ là động lực mạnh mẽ cho các thay đổi trong tương lai và khơi nguồn cho sự áp dụng rcác giải pháp mới rộng rãi. Song song đó, bạn hãy tìm hiểu thật kĩ các thách thức phía trước. Người ta phải bắt đầu ở một nơi nào đó: hãy tận hưởng hành trình của bạn!

Nguồn: Supplychain247, 7/2013.

10 XU HƯỚNG QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG ĐẾN NĂM 2023

10 XU HƯỚNG QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG ĐẾN NĂM 2023

Chuỗi cung ứng 5 năm sau sẽ như thế nào? Những xu hướng nào sẽ dẫn dắt chuỗi cũng ứng 5 năm nữa? Đây là những câu hỏi mà chính các chuyên gia quản lý chuỗi cung ứng cũng không ngừng tự hỏi họ. Mười xu hướng dưới đây đã được sự nhất trí của các chuyên gia trong quản trị chuỗi cung ứng ở nhiều nghành khác nhau.

Tháng 7.2013, khi đi ngang qua một hiệu sách, Tiến sĩ Sumantra Sengupta tình cờ thấy được quyển Corporation 2020 (Doanh nghiệp năm 2020) của Pavan Sukhdev. Tựa đề quyển sách đã thu hút và thấp lên trong ông những suy nghĩ thú vị về tương lai.

Về quyển sách này, một cách đơn giản, Sukhdev giới thiệu đến độc giả “công thức” để kinh doanh thành công với đầy đủ các loại gia vị; trong đó, ông dành nhiều thời gian để viết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và kinh doanh bền vững. Chính quyển sách của Sukhdev đã cho tiến sĩ Sengupta một niềm cảm hứng lớn để bắt đầu bài viết này. Một phần trong đây – tương lai quản trị chuỗi cung ứng – thật ra đã được bắt đầu viết từ nhiều năm trước. Dự án Quản trị chuỗi cung ứng năm 2020 của MIT là một ví dụ, dự án này đã quy tụ được nhiều nhà tiên phong trong nghiên cứu cũng như thực tiễn vận hành.

Tuy nhiên, nghiên cứu của MIT hay nhiều nghiên cứu khác đều tập trung vào việc vận hành chuỗi cung ứng, và rất ít đề cập về các “điểm giao” – những hoạt động bên ngoài chuỗi cung ứng như R&D, công nghệ thông tin hay dịch vụ hậu mãi. Trong danh sách này, tôi có cân nhắc đến những “điểm giao” quan trọng này.

Khi nghĩ về những xu hướng lớn có thể tác động đến quản trị chuỗi cung ứng trong giai đoạn sắp tới, các yếu tố kinh tế vĩ mô nên được cân nhắc. Và yếu tố vĩ mô nổi bật nhất chính là sự thay đổi trong cơ cấu nhân chủng học trong nền kinh tế toàn cầu.

Và nếu bạn có để ý đến các công ty sản xuất hay công ty hàng tiêu dùng nhanh đa quốc gia, thì chắc hẵn bạn sẽ biết đến thị trường BRIC (Brazil, Russia, India, and China). Tốc độ phát triển GDP ở thị trường BRIC đã vượt xa tốc độ phát triển của thị trường các quốc gia phát triển. Chỉ riêng người tiêu dùng của nhóm thị trường BRIC này thôi đã chiếm khoảng 40% dân số thế giới rồi. Và đến năm 2050, nền kinh tế của nhóm các quốc gia này ước tính sẽ vượt qua cả các quốc gia giàu nhất hiện tại, kể cả Hoa Kỳ và Châu Âu.

Ngoài ra, tình trạng thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao cũng là một điểm vĩ mô cần cân nhắc. Các nghiên cứu gần đây chỉ ra tình trạng thiếu nguồn nhân lực đã bắt đầu được diễn ra. Một phần sự thiếu hụt này (trong ngắn hạn) có thể được bù đắp nếu thế hệ Baby Boomers muốn (hay cần) việc làm lâu hơn sau các dư chấn đại suy thoái. Tuy vậy, dù trong bất kì tình huống nào, sự thiếu nhân lực chất lượng cao cũng sẽ tạo nên một xu hướng, được liệt kê bên dưới.

Sengupta đã có một vài bài thảo luận “10 sai lầm điển hình trong quản trị chuỗi cung ứng” (Top 10 Supply Chain Mistakes) được đăng trên tạp chí Supply Chain Management Review vào tháng 7-8.2014. Với cùng lối tiếp cận đó – xác định 10 điểm điển hình, ông tiếp tục viết bài này – 10 xu hướng quản trị chuỗi cung ứng điển hình.

Danh sách này được xây dựng dựa trên các nghiên cứu của Tiến sĩ Sumantra Sengupta cùng với sự tham vấn với các doanh nghiệp ở nhiều ngành khác nhau. Các xu hướng này đều được xem xét cẩn trọng bởi một nhóm các chuyên gia cao cấp trong lĩnh vực quản trị chuỗi cung ứng cũng như các lĩnh vực liên quan trong quản trị doanh nghiệp và đảm bảo được tính phổ quát đa ngành. Mục tiêu của nghiên cứu này là có được một bộ cơ sỡ dữ liệu thực tiễn phù hợp và đánh giá được năng lực ứng dụng của mỗi xu hướng đối với từng doanh nghiệp/ ngành cụ thể.

10 xu hướng quản trị chuỗi cung ứng trong 5 năm tới

1. Chuỗi dịch vụ sẽ quan trọng hơn so với chuỗi sản phẩm

Ở nhiều ngành (nếu không muốn nói là ở hầu hết tất cả các ngành), luật chơi được viết bởi người tiên phong. Và khi quyết định mua hàng, khách hàng ngày càng quan tâm đến chất lượng dịch vụ trước và sau thời điểm bán hàng.

Từ đó, các nổ lực kết hợp hiệu quả các dịch vụ trước và sau khi bán hàng (bao gồm thông tin sản phẩm, chất lượng dịch vụ cửa hàng, bảo hành, và dịch vụ hậu mãi) ngày càng được chú ý. Nhiều doanh nghiệp đã làm được điều này, và dần họ đạt được nhiều lợi thế cạnh tranh hơn so với các đối thủ chỉ chú trọng vào sản phẩm.

Thông điệp này được nhấn mạnh bởi Tim Cook – Apple CEO trong lời xin lỗi gửi đến người tiêu dùng Trung Quốc của ông vì các thiếu sót của Apply trong dịch vụ hậu mãi.

Đây là một ví dụ điển hình của một công ty lớn với sản phẩm tiên phong đầu ngành nhưng đôi lúc thiếu chú trọng đến khách hàng (khách hàng vẫn rất là quan trọng!). Cuối cùng, tất nhiên, sản phẩm đi kèm với dịch vụ tốt (ở đây là dịch vụ sữa chữa và bảo hành) vẫn tốt hơn nhiều so với chỉ sản phẩm tốt.

2.Doanh nghiệp cần phải công bố đầy đủ về các tác động của chuỗi cung ứng

Trong quyển Doanh nghiệp năm 2020, Sukhdev đã viết rất kĩ về các tác động bên ngoài của một doanh nghiệp – được định nghĩa là các tác động của một doanh nghiệp trong quá trình sản xuất hoặc kinh doanh lên xã hội – và sự cần thiết phải công bố các tác động đó.

Mặc dù một số chuỗi cung ứng đã có các hành động rõ ràng để đảm báo tính bền vững cũng như cắt giảm lượng khí thải CO2, các chuỗi cung ứng được kì vọng còn phải nổ lực hơn nữa trong việc công bố các tác động xuyên suốt của mình.

Nói một cách khác, doanh nghiệp cần đo lường và công bố tác động của mình: số lượng việc làm tạo ra cho xã hội, lượng khí thải giảm được, xây dựng quy trình mua hàng bền vững, sử dụng lực lượng lao động và các loại hình vận tải phù hợp.

Không xa nữa, khách hàng/người tiêu dùng sẽ quan tâm đến tính minh bạch, sự chia sẻ các tác động của chuỗi cung ứng được in trên nhãn sản phẩm.

3. Chuỗi cung ứng nên được thiết kế để phục vụ tầng lớp thấp (“base of pyramid”)

Cố giáo sư C.K. Prahlad tác giả quyển The Fortune at the Bottom of the Pyramid (Kho báu bên dưới kim tự tháp), sau này từ “bottom” được thay thế bằng từ “base” và tác phẩm được biết đến rộng rãi hơn với “base”.

Quyển sách đã chỉ ra tiềm năng thị trường toàn cầu với hơn 5 tỷ người có thu nhập ít hơn $2.000/năm. Để đáp ứng được thị trường này, các doanh nghiệp dù ở ngành hàng tiêu dùng nhanh hay hàng lâu bền cũng phải phát triển các sản phẩm phù hợp tương ứng.

Để khai thác được tiềm năng to lớn đó, chuỗi cung ứng cần có triết lý thiết kế hoàn toàn tối ưu với một “đường đáy” (bottom line) bền vững. Theo tư duy quản lý chuỗi cung ứng hiện tại, phần lớn giá được tính dựa trên mô hình Giá vốn cộng lãi (cost plus) và ngày mai nó nên được thay thế bằng mô hình chi phí “tối ưu” (not to exceed).

4. Công việc và nhân viên được toàn cầu hóa là điều tất yếu trong chuỗi cung ứng

Công việc đòi hỏi tri thức chiếm khoảng 40% tổng số giờ lao động trong chuỗi cung ứng hiện nay. Phần lớn các công việc này liên quan đến việc phân tích các vấn đề phức tạp, lập kế hoạch, mua hàng, và cung cấp các dịch vụ liên quan.

Với bản chất công việc, môi trường làm việc đa ngôn ngữ và sự phức hợp nhiều vị trí địa lý phục vụ khách hàng khác nhau, công việc luôn đòi hỏi nhân viên phải có kiến thức toàn cầu hóa toàn vẹn.

Ví dụ, ta có thể dễ dàng thấy được một công ty có trụ sở ở Hoa Kỳ lên kế hoạch sản xuất ở Phillippines, mua hàng ở Singapore, và phân tích hiệu quả kinh doanh toàn cầu ở Brazil.

5. Quản lý chuỗi cung ứng cũng sẽ có chứng chỉ nghiệp vụ tương tự (như CPAs)

Bên cạnh chương trình đào tạo đại học và sau đại học quản trị chuỗi cung ứng được cung cấp bởi các trường đại học học, một số tổ chức chuyên nghiệp như APICS, CSCMP hay ISM cũng cung cấp chương trình đào tạo và cấp chứng chỉ nghiệp vụ.

Tuy nhiên, hầu hết, các chương trình này chỉ tập trung vào “quản lý chuỗi cung ứng căn bản” hay một vài nghiệp vụ cụ thể như “xuất nhập khẩu”, “phân tích tài chính”. Chúng tôi tin chắc ràng, tương lai sẽ có một chuyển biến lớn về kết quả, nội dung chương trình, và cả các chứng chỉ quản lý chuỗi cung ứng chuyên nghiệp.

Đối với một số chứng chỉ khác như CPA (Certified Public Accountant) với kế toán, PE (Professional Engineers) với kĩ sư, người dự thi còn phải trải qua các vòng thi toàn quốc cũng như tiếp tục học thêm về nghiệp vụ (được đo lường bằng số giờ cụ thể mỗi năm). Chúng tôi nghĩ rằng chương trình đào tạo nghiệp vụ mới với hệ thống tín chỉ sẽ được áp dụng trong lĩnh vực quản lý chuỗi cung ứng chuyên nghiệp để bình thường hóa các kiến thức cơ bản từ nhiều học liệu khác nhau.

[Còn tiếp …]

Nguồn: Supplychain247, 7/2013

“Giám sát toàn diện vận tải” đã đẩy mạnh sự hợp tác và chia sẻ thông tin cho các bên liên quan trong chuỗi cung ứng như thế nào?

“Giám sát toàn diện vận tải” đã đẩy mạnh sự hợp tác và chia sẻ thông tin cho các bên liên quan trong chuỗi cung ứng như thế nào?

 

Xây dựng thành công “Giám sát toàn diện vận tải” (control center) trong chuỗi cung ứng mang lại nhiều lợi ích lớn. Khi nhìn vào những doanh nghiệp lớn hay những chuỗi cung ứng toàn cầu, ta sẽ thấy rõ sự phù hợp của giải pháp này; và thiết nghĩ cũng rất nên dành thời gian xem họ vận hành như thế nào.

Giám sát toàn diện vận tải có thể làm được gì để hỗ trợ bạn vận hành chuỗi cung ứng?

Nucleus Research vừa công bố Ma trận Giá trị Giám sát toàn diện vận tải 2017 (Control Tower Value Matrix 2017). Với ma trận này, ta có thể thấy một cách chi tiết hiện trạng vận hành và các giá trị của giải pháp này mang lại cho doanh nghiệp.

Nghiên cứu này phân loại các giải pháp dựa trên chức năng của chúng, rồi từ đó xây dựng một ma trận hỗ trợ đánh giá các giải pháp giám sát toàn diện vận tải hiện có trên thị trường.

Vậy Giám sát toàn diện vận tải là gì?

Trong Ma trận Giá trị Giám sát toàn diện vận tải 2017 của Nucleus Research, giám sát toàn diện vận tải (gọi tắt là giám sát vận tải) có thể được hiểu là công cụ “cung cấp khả năng hiển thị (visibility)… và nhiều tính năng hỗ trợ khác như phối hợp các bên, tự động hoá quy trình và nâng cao khả năng kiểm soát.”

Giám sát toàn diện vận tải là một phạm trù khá rộng. Trong những năm gần đây, giải pháp này phát triển một cách nhanh chóng và hiện nay, thị trường các loại giải pháp này rất đa dạng. Ma trận Giá trị Giám sát toàn diện vận tải đã tiến hành phân loại tất các giải pháp giám sát toàn diện vận tải hiện có – từ 13 nhà cung cấp dịch vụ phần mềm khác nhau.

Các loại Giám sát toàn diện vận tải trong chuỗi cung ứng

Tầm nhìn

Ở mức cơ bản nhất, giám sát toàn diện vận tải có thể cho ta thấy được bức tranh chuỗi cung ứng toàn cầu (hoặc gần như toàn cầu).

Ban đầu, giải pháp ra đời với mong muốn nắm bắt được bức tranh chuỗi cung ứng – một bức tranh ngày càng phân mảnh và phức tạp. Giải pháp này đã nổ lực xây dựng niềm tin giữa các bên, vượt qua các rào cản giữa phòng ban với phòng ban, và giữa doanh nghiệp với đối tác – nhà cung cấp, nhà sản xuất, các hãng vận tải và 3PL.

Tuy nhiên, tầm nhìn không thì vẫn chưa đủ? Với tầm nhìn mà giám sát toàn diện vận tải cho ta, ta vẫn chưa thể giải quyết được vấn đề.

Khả năng chủ động

Vì lý do trên mà giám sát vận tải đã được phát triển lên mức cao hơn – trở thành một công cụ hỗ trợ nhà quản lý chuỗi cung ứng không chỉ có thể theo dõi, mà còn có thể can thiệp và giải quyết các vấn đề phát sinh. Mặc dù vậy, khả năng này chỉ được giới hạn trong một vài phần xác định của chuỗi cung ứng. Đó thường là những phần được kiểm soát trực tiếp bởi một doanh nghiệp duy nhất.

Hợp tác

Ở một bước phát triển cao hơn, giám sát vận tải hướng tới năng lực liên kết các tổ chức trong chuỗi cung ứng, từ khách hàng, nhà cung cấp, đến nhà cung ứng dịch vụ logistics. Theo đó, nhà quản lý chuỗi cung ứng sẽ có thể giải quyết được nhiều vấn đề không chỉ ở phạm vi trực tiếp quản lý của họ mà còn rộng ra toàn chuỗi cung ứng.

Tự động hóa

Hiện tại, giám sát toàn diện vận tải đã tự động hóa được một số tính năng mà trước đây con người phải thực hiện. Ví dụ, khi tồn kho đạt một giá trị định trước, hệ thống sẽ tự động xuống đơn hàng. Tất nhiên, vẫn còn nhiều nghiệp vụ khác có thể tự động hóa được, và khi tự động hóa thành công, nhà quản lý sẽ có thêm thời gian cho những việc khác mang lại nhiều giá trị hơn.

“Nhờ vào tự động hóa, nhà quản lý chuỗi cung ứng sẽ có nhiều thời gian hơn để giải quyết các vấn đề quan trọng thay vì các vấn đề linh tinh mỗi ngày.” (Ma trận Giá trị Giám sát toàn diện vận tải 2017, Nucleus Research)

Giải pháp giám sát toàn diện vận tải làm được gì cho bạn?

Sự khác biệt giữa mô hình hub-spoke và mô hình mạng nhiều bên

 

Kết hợp tất cả những điều kể trên, lợi ích mà giải pháp này đem lại cho doanh nghiệp là vô cùng lớn.

Nhiều công ty hiện vẫn đang phải vật lộn để có được một bức tranh toàn cảnh về chuỗi cung ứng của họ. Tất nhiên, giám sát toàn diện vận tải có thể làm được điều đó và còn nhiều hơn thế nữa.

Tùy vào từng mức độ, từ tầm nhìn, năng lực chủ động, hợp tác, đến tự động hóa, các giá trị lợi ích mà giám sát vận tải mang lại là khác nhau. Tuy nhiên, ở mức độ cao hơn, tiềm năng của giải pháp này phụ thuộc vào nền tảng mà nó được xây dựng.

Trong bài Sự bùng nổ của Giải pháp giám sát Chuỗi cung ứng (The Rise of Supply Chain Towers), các hạn chế của giải pháp giám sát vận tải truyền thống được xây dựng dựa trên mô hình hub-spoke truyền thống đã được giải thích. Ở đây, ta không bàn nhiều đến điều đó, chỉ cần một lưu ý nhỏ, mô hình này bị hạn chế về năng lực “tầm nhìn toàn cảnh” và khả năng tối ưu hóa do sự rời rạc của hệ thống. Khá là phức tạp để kết nối và bảo trì các kết nối này giữa những hệ thống độc lập.

Các giải pháp giám sát toàn diện vận tải mới được xây dựng trên nền tảng dữ liệu thời gian thực (real-time data) với sự tham gia của nhiều bên hữu quan sẽ giúp ta giảm chi phí, tăng tốc độ, có khả năng linh hoạt và phục hồi cao hơn.

“Nucleus nhận thấy rằng: giải pháp giám sát toàn diện vận tải có thể làm giảm các rủi ro cho doanh nghiệp áp dụng thành công  thông qua việc cải thiện tầm nhìn, sự hợp tác, và tối ưu hóa.” – Giá trị thực của mạng giá trị (The Real Value of Value Networks), 04/2017, Nucleus Research

Giải pháp thời gian thực loại bỏ sự chậm trễ của thông tin; cung cấp “tầm nhìn” từ đầu đến cuối và tối ưu hóa tốt hơn nhờ các dữ liệu được cập nhật liên tục và toàn cảnh, thể hiện được thực tế vận hành. Giải pháp này còn cung thông tin hỗ trợ ra quyết định, với các dữ liệu thực về đơn hàng, hàng tồn kho, hàng giao, và các ràng buộc về năng lực sản xuất ở tất cả các nút trong mạng lưới.

Giám sát toàn diện vận tải được xây dựng trên nền tảng mạng nhiều bên, mang lại giá trị lớn hơn so với các giải pháp được xây dựng trên nền tảng truyền thống (bị giới hạn trong hệ thống của một doanh nghiệp). Khi khảo sát 30 khách hàng với giải pháp mới, Nucleus Research thấy các doanh nghiệp này đạt được nhiều lợi thế cạnh tranh hơn như:

  • Tăng vòng xoay hàng tồn kho thêm từ 10% đến 75%, trung bình 56%
  • Giảm giảm mức tồn kho an toàn từ 10%-55%, trung bình 38%.
  • Giảm 15-90% trường hợp thiếu hụt tồn kho và nguyên liệu, trung bình khoảng 76%
  • Giảm trung bình 54% chi phí khẩn cấp (expedite costs)

Vì vậy, ta có thể khẳng định giải pháp giám sát toàn diện vận tải trên nền tảng mạng nhiều bên mang lại lợi ích lớn hơn và sự phù hợp cao của giải pháp này với các chuỗi cung ứng toàn cầu phức tạp. Nghiên cứu Ma trận Giám sát toàn diện vận tải của Nucleus Research đã phân loại các giải pháp hiện có trên thị trường từ nhiều nhà cung cấp, kết quả này rất đáng được cân nhắc ứng dụng cho chuỗi cung ứng của bạn./.

Nguồn: supplychain247.com

LÀM THẾ NÀO CẢI THIỆN “CHẶNG CUỐI” TRONG CHUỖI CUNG ỨNG BÁN LẺ CỦA BẠN? (Phần 2)

LÀM THẾ NÀO CẢI THIỆN “CHẶNG CUỐI” TRONG CHUỖI CUNG ỨNG BÁN LẺ CỦA BẠN? (Phần 2)

Chúng ta sẽ tiếp tục đi tiếp câu chuyện cải thiện “chặng cuối”…

Sản xuất và cung ứng để hỗ trợ cho giao hàng chặng cuối

Bạn cũng có thể tối ưu hóa quy trình sản xuất hay lắp ráp của mình để nâng cao hiệu quả quản lý tồn kho cũng như chi phí cho toàn hệ thống bán lẻ. “Trì hoãn” (postponement) lấy tưởng tốt nhất để thực hiện điều này. “Trì hoãn việc xử lý đơn hàng” (postponed fulfillment strategy) sẽ giúp bạn giảm số lượng tồn kho ở các điểm tồn kho cuối cùng. Chiến lược này khuyến khích bạn chuyển bước sản xuất/lắp ráp cuối cùng về điểm càng gần khách hàng cuối cùng càng tốt.

Thống kê cho thấy: Có thể giảm được 30-40% chi phí hàng tồn kho nếu chiến lược trì hoàn được thực hiện thành công.

 

“Trì hoãn sản xuất” (manufacturing postponement), một loại “trì hoãn” khác, có thể được áp dụng ở nhiều loại sản phẩm khác nhau. Trong thương mại điện tử, “trì hoãn” tốt nhất thật ra chỉ là một tùy biến nhỏ như gắn nhãn hay bao bì sản phẩm, nói một cách chính xác hơn, trì hoãn sản xuất ở đây chính là trì hoãn điểm tạo nên khác biệt.

Không chỉ là giao hàng…

Mặc dù đã đi ngược dòng chuỗi cung ứng khá xa, nhưng nếu đãchọn chất lượng là sự khác biệt cho dịch vụ của mình, chúng ta còn phải nhìn xa hơn nữa – xa hơn “thềm nhà của khách hàng”. Thường nhà bán lẻ hàng gia dụng sẽ cung cấp luôn dịch vụ giao hàng tại nhà và dịch vụ giao hàng tại nhà của họ luôn đi với các dịch vụ hỗ trợ kèm theo như lắp đặt, hướng dẫn sử dụng, hay xử lý/tái chế các sản phẩm cũ.

Thống kê cho thấy: Tới tháng 12.2015, thị trường dịch vụ hỗ trợ đi kèm khi giao hàng tăng trưởng và trị giá $13 tỷ/năm.

 

Ngoài ngành hàng bán lẻ sản phẩm gia dụng, các ngành hàng khác cũng bắt đầu cung cấp dịch vụ hỗ trợ để nâng cao chất lượng dịch vụ của mình.

Nếu công ty của bạn bán mọi thứ và phải tốn phí để vận chuyển hay lắp ráp sản phẩm, bạn cũng có thể cân nhắc đến việc cung cấp dịch vụ hỗ trợ. Tuy nhiên, nếu không muốn phải đầu tư quá nhiều vào đây, bạn có thể đặt niềm tin vào các nhà cung ứng dịch vụ giao hàng, và số lượng các nhà các nhà cung ứng dịch vụ này vẫn không ngừng tăng.

Khi “chặng cuối” trở thành bước đầu tiên

Mặc cho các tiêu chuẩn chất lượng của bạn có chặt chẽ đến đâu đi nữa thì logistics ngược (reverse logistics) – một phần quan trọng trong chuỗi cung ứng của bạn cũng phải được tối ưu hóa. Đặc thù trong “giao hàng tại nhà” là khách hàng sẽ nhận những gì họ thích và những gì họ không thích sẽ bị trả về nhà bán lẻ. Do đó, dịch vụ trả hàng tốtlà điều kiện tiên quyết cho sự thành công của các công ty thương mại điện tử.

Thống kê cho thấy: 81% người mua hàng thích những nhà bán lẽ hỗ trợ dịch vụ trả hàng miễn phí hơn.

 

Khách hàng không quan tâm sản phẩm được trả lại sẽ đi lòng vòng như thế nào trong chuỗi cung ứng của bạn, họ chỉ quan tâm làm sao để trả lại các sản phẩm họ không thích và được nhận lại tiền. Thật ra, logistics ngược chiếm một phần đáng kể trong tổng chi phí giao hàng chặng cuối, trong nhiều trường hợp, chi phí này có thể lên đến 1/3 tổng chi phí giao hàng.

Chỉ lý do này thôi đã cho ta thấy được tầm quan trọng của việc xây dựng một quy trình logistics ngược hiệu quả. Và hơn hết, gần một nữa số lượng nhà bán lẻ trên thị trường sẵn sàng hỗ trợ trả hàng miễn phí, do đó ta khó có thể để khách hàng trả chi phí này. Tương tự, việc tập trung vào chất lượng sản phẩm bên ngoài cũng quan trọng không kém. Thật không hợp lý khi kì vọng tỷ lệ trả hàng sẽ giảm khi hầu hết các sản phẩm được trả lại là hoàn toàn tốt và cũng chính khách hàng là người “gật đầu đồng ý” mua hàng.

Do đó, làm sao để bạn tối ưu được dịch vụ logistics ngược là một chủ đề phức tạp nhưng dưới đây là một vài khả năng có thể cân nhắc:

  • Tách biệt hóa và tập trung hóa logistics
  • Thuê ngoài toàn bộ quy trình dịch vụ logistics ngược
  • Thực hiện trả hàng với các mã nguyên nhân được quy định sẵn
  • Giảm thiểu số trạm trong dòng logistics ngược

Ta cũng nên hiểu rằng cái gì không đo lường được thì không thể quản lý được. Do đó, nếu muốn mình dẫn đầu quy trình logistics ngược thông qua việc xác định các điểm kém hiệu quả và cải thiện chúng, bạn cần có các chuẩn đối sánh phù hợp và các KPIs đo lường tốt. Đo lường kết quả là điều kiện tiên quyết để vận hành cả hai chiều thuận và ngược của logistics hiểu quả – đây là vấn đề chúng ta xem xét kế tiếp.

Đo lường hiệu quả dịch vụ chặng cuối

Cũng như những hoạt động logistics khác, phân phối bán lẻ và các quá trình hỗ trợ nhất thiết phải được đo lường. Một hệ thống đo lường có thứ tự là cần thiết để theo dõi hiệu quả dịch vụ và chi phí, tuy nhiên đối với dịch vụ giao hàng chặng cuối, bạn chỉ cần áp dụng vài chỉ số liên quan.

“Một quy luật bất biến trong kinh doanh là nói chỉ là lời nói, giải thích cũng chỉ là lời giải thích, hứa vẫn chỉ là lời hứa, duy chỉ có kết quả là thực tế” – Harold S.Geneen

 

Các KPIs bên dưới có thể hữu ích để bạn đo lường hiệu quả dịch vụ của đội xe hay 3PL của mình:

  • Mức tiêu thụ xăng dầu trên một thiết bị/tài xế
  • Độ dài quãng đường dự kiến so với thực tế
  • Số lượng đơn hàng giao trên một chặng đường
  • Tỉ lệ giao hàng đúng hạn (số đơn hàng được giao đúng hạn)
  • Năng suất sử dụng của thiết bị
  • Năng suất đội xe được sử dụng
  • Chi phí vận hành thiết bị trên một km
  • Thời gian lái xe (dừng xe và chạy xe)
  • Tổng chi phí trên một km (tài xế, thiết bị, và xăng dầu)
  • Tổng số đoạn trên mỗi chuyến (một đoạn được định nghĩa là khoảng cách giữa hai điểm dừng)
  • Độ dài trung bình mỗi đoạn
  • Độ dài trung bình mỗi chuyến
  • Thời gian trung bình ở mỗi điểm dừng
  • Số lượng điểm dừng (thực tế và kế hoạch)

Để đo lường sự hỗ trợ của chuỗi cung ứng cho chiến lược cạnh tranh giao hàng chặng cuối, bạn có thể sử dụng một bộ thang đo nữa. Phương diện đo lường quan trọng nhất ở đây là độ chính xác của tồn kho, chi phí để giao một đơn hàng, độ chính xác của dự báo, và vòng đời sản phẩm. Đối với logistics ngược, một số KPIs có thể sử dụng là:

  • Tỉ lệ giá trị phục hồi của sản phẩm
  • Chi phí vận chuyển và giải quyết cho mỗi sản phẩm bị trả về
  • Quãng đường vận chuyển cho mỗi sản phẩm
  • Tỉ lệ lấy hàng đúng hẹn

Các thang đo và KPIs được gợi ý ở đây chỉ là “nguyên bản”. Hãy cân nhắc tính phù hợp của chúng và điều chỉnh (nếu cần) cho phù hợp với thực tế vận hành ở công ty của bạn.

Hãy đưa đội IT tham gia vào

Các công nghệ mới giúp khách hàng trải nghiệm việc mua sắm tại nhà tiện lợi hơn là khởi nguồn cho sự bùng nổ dịch vụ giao hàng chặng cuối.Không dễ dàng gì để cạnh tranh với các đối thủ khác trong không gian mạng nếu ta không có sự tham gia của công nghệ. Và điều này đúng hơn nữa khi công ty bạn tự xây dựng và quản lý (hay thuê cho riêng mình) một đội xe và muốn khai thác hiệu quả nguồn lực giao hàng này.

Thống kế cho thấy rằng: 43% khách hàng đặt hàng qua mạng muốn nhận được tin nhắn báo thời điểm mà họ sẽ nhận được hàng.

Tối ưu hóa tải hàng, định tuyến, và lập kế hoạch chuyến

Nền tảng giúp hoạch định và tối ưu hóa tuyến đường có thể được xem là một trong những ứng dụng công nghệ quan trọng nhất trong dịch vụ giao hàng chặng cuối. Các module hoạch định và định tuyến được tích hợp trong các giải pháp ERP và TMS hiếm khi đủ khả năng để đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp bán lẻ đa kênh lớn – khi các đơn hàng mới liên tục được thêm vào các kế hoạch định tuyến và các dịch vụ giao hàng đa lựa chọn. Nếu đã xác định giao hàng chặng cuối là một hoạt động đem lại giá trị cho khách hàng, bạn phải cân nhắc xứng đáng để đầu tư một giải pháp hoạch định và tối ưu định tuyến động.

Trực quan hóa tạo nên giá trị

Khi sử dụng các dịch vụ vận chuyển người như Uber, khách hàng đã quen với việc sử dụng một dịch vụ có tính trực quan toàn diện. Do đó, từ khi đặt hàng cho đến khi nhận được hàng, khách hàng luôn muốn biết chính xác đơn hàng của mình hiện đang ở đâu

Điều này đòi hỏi sự tích hợp giữa tối ưu định tuyến năng động (dynamic route optimization) và công nghệ truy vết toàn diện, với sự hỗ trợ của công nghệ telematics của thiết bị vận tải và công nghệ di động của tài xế.

Khi bạn đã “trực quan hóa” thành công, ít nhất, bạn đã cho khách hàng của mình thấy được đơn hàng của họ đang đâu trong quá trình giao hàng. Ta không nên xem nhẹcác lợi ích về chi phí và chất lượng của giải pháp trực quan hóa quá trình giao hàng, với giải pháp này, ta có thể loại bỏ hoàn toàn công việc bàn giấy xưa cũ.

Công nghệ giao hàng chặng cuối vẫn còn vô vàn các “siêu đổi mới”, với nhiều ý tưởng như giao hàng bằng các thiết bị tự hành, bằng drones, và đây đều là những ý tưởng rất đáng lưu tâm.

Tuy nhiên, tại thời điểm hiện tại, chúng tôi khuyên bạn tốt nhất nên đầu tư vào phần mềm và cố khai thác tốt nhất nguồn lực vận tải sẵn có của mình, hướng đến cung cấp một dịch vụ tiện lợi nhất và trực quan nhất. Nếu không có đội xe riêng của mình, bạn cũng không cần quá sa đà vào công nghệ hiện đại. Thay vào đó, bạn nên tập trung vào việc chọn một nhà cung ứng dịch vụ vận tải có tiềm năng công nghệ caohay chí ítlà có khả năng cung cấp một dịch vụ trực quan quá trình giao hàng cho bạn và khách hàng của bạn.

Rào cản cuối cùng trong ngành bán lẻ là giao hàng chặng cuối

Giao hàng tại nhà thật ra không có gì mới. Tuy nhiên, bạn sẽ sớm bị đẩy ra khỏi cuộc chơi của ngành bán lẻ nếu không tham gia cuộc đua “chặng cuối”, vì quy mô của thị trường ngày càng lớn và vì khách hàng của bạn xemgiao hàng tại nhà như một điều “dĩ nhiên phải có” chứ không phải là một “lựa chọn đi kèm”. Như một số nhà bán lẽ vẫn làm, bạn có thể xem dịch vụ giao hàng chặng cuối là một loại chi phí không đáng có và do đó, phải kiểm soát và tối thiểu nó. Tuy nhiên, câu chuyện của những nhà bán lẻ đa kênh thành công là câu chuyện kể về việc biến dịch vụ giao hàng tại nhà thành một điều gì đó tạo nên giá trị.

Hy vọng bài viết này mang lại cho bạn một vài ý tưởng để cạnh tranh trong dịch vụ giao hàng chặng cuối, về chi phí và cả về chất lượng dịch vụ. Chúng tôi rất muốn nghe từ bạn những khó khăn và kinh nghiệm thực tế trong công cuộc cạnh tranh bán lẻ đa kênh, và những câu chuyện về quá trình tìm kiếm lời đáp cho sự khác biệt trong giao hàng chặng cuối– rào cản cuối cùng trong ngành bán lẻ ./.

—–

Nguồn: Logistics Bureau

LÀM THẾ NÀO CẢI THIỆN “CHẶNG CUỐI” TRONG CHUỖI CUNG ỨNG BÁN LẺ CỦA BẠN? (phần 1)

LÀM THẾ NÀO CẢI THIỆN “CHẶNG CUỐI” TRONG CHUỖI CUNG ỨNG BÁN LẺ CỦA BẠN? (phần 1)

“Chặng cuối” (last mile) có thể được xem là một (trong những) thuật ngữ “tân thời nhất” trong logistics. Tất nhiên là nhiều lý do để khẳng định điều này. Nếu công ty của bạn đang bán hàng đa kênh (omnichannel retail) – một lĩnh vực vô cùng sôi động, thì bạn thật sự cần phải chú ý đến thuật ngữ “chặng cuối” này.

Hai câu hỏi được đặt ở đây. Câu hỏi đầu tiên và có lẽ quan trọng nhất bạn nên hỏi chính mình: “Chúng ta muốn dịch vụ giao hàng chặng cuối của mình cạnh tranh ở giá cả hay ở chất lượng?”. Câu hỏi thứ hai và là câu hỏi mà bạn nên tránh: “Chúng ta có muốn sử dụng dịch vụ chặng cuối để cạnh tranh hay không?”

Thống kê cho thấy rằng: 28% người mua hàng trên mạng sẽ hủy đơn hàng nếu chi phí vận chuyển vượt mức kì vọng của họ.

Mọi thứ đều quy về hiệu quả của “chặng cuối”

Bằng cách này hay cách khác, sự thành công – hay sự sống còn – của một công ty phụ thuộc vào việc duy trì sự hài lòng khách hàng. Nếu dịch vụ của bạn bao gồm cả việc giao hàng đến tận nhà, thì chắc chắn rằng, giao hàng chặng cuối đóng vai trò vô cùng quan trọng trong năng lực cạnh tranh của bạn.

Thống kê cho thấy rằng: Giao hàng đúng hẹn sẽ tạo động lực để 78% khách hàng tiếp tục mua hàng từ nhà bán lẻ.

 

Trước khi bạn cho rằng đây là một nhận định đã quá đỗi quen thuộc, bạn hãy suy nghĩ về những điều sau, mà có lẽ đó là những điều bạn chưa từng nghĩ tới.

Để dịch vụ chặng cuối cạnh tranh thành công, bạn cần đảm bảo toàn bộ chuỗi cung ứng của mình (hoặc chí ít là phần mà bạn đang kiểm soát) được xây dựng để hỗ trợ chiến lược cạnh tranh giao hàng chặng cuối hiệu quả. Đó chính là điều bạn có thể tìm thấy trong bài viết này. Ở đây, chúng tôi sẽ giải thích cách sử dụng chuỗi cung ứng để cải thiện dịch vụ giao hàng chặng cuối và cách để xây dựng thành công sự khác biệt cho chuỗi cung ứng bán lẻ của bạn so với chuỗi cung ứng của đối thủ, dựa trên chiến lược cạnh tranh ở chi phí hay ở chất lượng dịch vụ của bạn.

Nên chọn theo đuổi Chất lượng hay Chi phí? và Điều đó có nghĩa là gì?

Trước khi vào thẳng vấn đề, chúng ta nên cân nhắc một chút đến ý nghĩa của việc cạnh tranh dựa trên chất lượng hay chi phí trong giao hàng chặng cuối. Chất lượng ở đây là gì? Chất lượng cao trong giao hàng chặng cuối có thể là tốc độ giao hàng nhanh. Trong trường hợp này, bạn có thể thấy các ví dụ điển hình như giao hàng trong ngày hay giao hàng trong 24 giờ sau khi đặt hàng. Khi đó, bạn sẽ cần cân nhắc liệu rằng chi phí giao hàng nhanh này nên để khách hàng trả hay nên được tính vào giá bán lẻ sản phẩm.

Thống kê cho thấy rằng: 61% người dùng internet ở Hoa Kỳ sẵn sàng trả phí để nhận đơn hàng trong ngày đặt hàng.

 

Mặt khác, chất lượng có thể hướng đến công tác giao hàng. Kiện hàng được để (một cách tùy tiện) ở vỉa hè, đặt (đàng hoàng) trước cửa nhà hay các dịch vụ đi kèm khác (như lắp đặt đồ gia dụng, cài đặt TV hay các thiết bị điện tử). Nếu bạn đang cạnh tranh ở chi phí, bạn có thể chỉ cần để kiện hàng ở ngoài cửa nhà khách hàng mà không lấy họ thêm bất kì chi phí giao hàng nào; bạn cũng có thể yêu cầu khách hàng lấy hàng ở cửa hàng hoặc một địa điểm được xác định trước (chúng ta sẽ thảo luận những ý tưởng liên quan ở bên dưới, như tủ khóa thông minh – smart locker).

Đó là một chuỗi các quyết định với sự hỗ trợ của nhiều bước được thực hiện xuyên suốt chuỗi cung ứng; và đó không phải chỉ là việc của nhà cung ứng dịch vụ logistics hoặc chỉ là quyết định thuê ngoài hay tự vận hành. Bạn nên bắt đầu với các quyết định về mức chất lượngchi phí giao hàng chặng cuối, sau đó nhìn lại toàn bộ chuỗi cung ứng của mình và xác định những gì cần làm để thực hiện chiến lược này. Nếu những điều này đã quá rõ ràng với bạn, bạn đã đi trước đối thủ mình một bước; chắc rằng một vài đối thủ của bạn vẫn còn thiếu sót trong việc cân nhắc về giao hàng chặng cuối.

Trước hết, hãy nhìn vào “chặng cuối”

Để chắc rằng bạn cân nhắc đến “giao hàng chặng cuối” trước khi làm bất cứ điều gì, chúng tôi giới thiệu đến bạn các hướng dẫn bên dưới. Hãy bắt đầu với việc xem xét các tài sản liên quan khi đàm phán dịch vụ giao hàng chặn cuối và giao hàng tận tay khách hàng. Rất lạ khi chúng tôi nhận thấy rằng tài sản quan trọng nhất đối với một nhà bán lẻ lại là điều mà họ hoàn toàn coi nhẹ – tài sản con người.

Thống kê cho thấy rằng: 38% khách hàng sẽ ngừng mua hàng do các trải nghiệm dịch vụ giao hàng kém.

Sự kết nối giữa con người với con người

Sản phẩm của bạn không phải được giao bằng xe tải, xe máy, hay xe đạp (mặc dù các thiết bị tự hành không phải là quá xa với thực tại vận hành). Sản phẩm của bạn được giao bằng chính con người; đó lại là gương mặt đại diện cho công ty của bạn. Trong trường hợp, bạn kinh doanh hoàn toàn trên mạng thì có lẽ đây là gương mặt duy nhất mà khách hàng được tiếp xúc trực tiếp khi mua sản phẩm của bạn. Khi lưu tâm điểm này, liệu rằng bạn có muốn phó thác cho một 3PL giao hàng cho mình? Bạn có sẵn sàng để tin tưởng lời hứa chất lượng dịch vụ của các dịch vụ giao hàng? Hay liệu rằng bạn nên tự vận hành dịch vụ giao hàng chặng cuối (và sở hữu các phương tiện dịch vụ cho riêng mình).

Điều này phụ thuộc nhiều vào quy mô công ty, phạm vi địa lý thị trường, bản chất sản phẩm, và năng lực của công ty bạn.

Nếu bạn quyết định chiến lược giao hàng chặng cuối của mình tập trung vào chất lượng, bạn nên tập trung vào việc vận hành các tài sản (nguồn lực nội bộ), với các nhân viên giao hàng là các nhân viên của chính công ty bạn. Khi quy mô công ty cho phép, lựa chọn này đôi lúc còn giúp bạn tiết kiệm chi phí. Quyết định bắt đầu cắt giảm môi giới/trung gian giao hàng chặng cuối của Amazon ắt hẵn là do cả chi phí và đặc tính có thể kiểm soát (được chất lượng dịch vụ).

Lợi ích của việc sở hữu nguồn lực giao hàng chặng cuối

Ở đây, chúng ta sẽ tập trung vào yếu tố chất lượng dịch vụ. Nếu công ty bạn thuê và quản lý một lực lượng tài xế cho riêng mình, bạn có thểm đảm bảo sự kiểm soát trực tiếp các trải nghiệm của khách hàng khi giao hàng. Điều này là một lợi thể lớn trong cuộc đua giành giât “cảm tình và suy nghĩ” của khách hàng. Đặc biệt hơn nữakhi tài xế của bạn có một bộ quy tắc ứng xử thể hiện nét đặc trưng của thương hiệu (brand code) để thực hiện trong quá trình tương tác với khách hàng. Sở hữu lực lượng giao hàng cho riêng mình, bạn có điều kiện để theo dõi, đo lường, và quản lý thời gian các nhân viên ở từng tuyến đường. Các doanh nghiệp thường quên điều này vì việc quản lý hay có xu hướng tập trung vào hiệu quả phương tiện hơn là hiệu quả giao hàng của tài xế.

Khi việc sở hữu một đội xe cho riêng mình là không khả thi, điều gì sẽ xảy ra? Bạn có thể làm việc với LTL, parcel carrier hay hợp đồng với một hoặc nhiều 3PLs để đảm nhận nhiệm vụ giao hàng chặng cuối.

Với 3PL, bạn có thể kiểm soát được hành vi của tài xế ở một mức độ nhất định nếu bạn đàm phám một hợp đồng vớinhà cung ứng dịch vụ logistics gồm các điều khoản cam kết về chất lượng dịch vụ phù hợp. Nếu bạn chọn phương án LTL/parcel, điều tốt nhất bạn có thể làm là chỉ hãy làm việc với một nhà cung ứng dịch vụ duy nhất (có danh tiếng nhất định về chất lượng dịch vụ).

Làm ngắn quá trình giao hàng chặng cuối

Nếu bạn muốn điểm khác biệt của mình là chi phí giao hàng chặng cuối thấp (và quy mô của bạn không đủ để có một đội xe riêng), bạn cần cân nhắc liệu rằng carrier contracts hay 3PL partnership mang lại cho bạn cơ hội cắt giảm chi phí tốt nhất.

Khi chất lượng dịch vụ không phải là một lựa chọn tốt ở đây, thì đó chính là chi phí vận tải – nhà cung cấp dịch vụ giao hàng sẽ rất sẵn lòng tập trung vào các chi phí quản lý đội xe của họ.

Mặc dù hiện tại, các công nghệ hỗ trợ và các ý tưởng (conceptual expertise) chỉ vừa có chỗ đứng nhất định, nhưng giảm chi phí giao hàng chặng cuối là điều có thể làm được cùng lúc với việc giải quyết các vấn đề có liên quan đến việc quản lý đội tài xế. Đó có thể là phương án đề nghị khách hàng nhận đơn hàng của họ trên đường giao hàng thông qua các tủ khóa thông minh (smart lockers). Đây là các tủ dùng chung được đặt ở các khu vực công cộng hay các cơ sở thương mại địa phương. Để mở được các tủ này, khách hàng cần có mật khẩu.

Các phương án tương tự có thể là “click chuột và lấy hàng” (click-and-collect). Dù bạn đang vận hành cửa hàng vật lý hay cửa hàng điện tử, ý tưởng này vẫn là một ý tưởng hay!

Vẻ đẹp của các dịch vụ giao hàng không tại nhà này là việc cắt giảm được các chi phí giao hàng thông qua việc giảm số lượng các điểm đến cũng như là loại bỏ bớt các vấn đề có liên quan đến “tài xế là người đại diện cho công ty bạn”. Chi phí hiệu quả (cost wise), là mô hình để khách hàng cùng tham gia vào quá trình giao hàng chặng cuối. Với hình thức này, bạn có thể kiểm soát được các chi phí về nhân lực cũng như phương tiện trong quá trình vận hành của mình.

Xe tải và các loại hình phương tiện vận chuyển khác

Ngày mà các thiết bị kĩ thuật cao trở nên quan trọng hơn nguồn lực con người không còn là viễn cảnh đối với các doanh nghiệp nữa. Tuy nhiên, máy bay không người lái (drones) và các thiết bị tự hành còn khá mờ mịt. Vì thế, ở thời điểm hiện tại, bạn cần xem xét đến đội tài xế và cách thức họ tác động đến chi phí cũng như chất lượng dịch vụ giao hàng chặng cuối. Bên cạnh đó, quyết định sở hữu hay thuê ngoài các thiết bị kĩ thuật cao đều có tác động lớn đến hiệu quả giao hàng chặng cuối của công ty bạn. Nếu không có chúng, bạn khó có dịch vụ tốt và kinh doanh hiệu quả. Nếu có chúng, bạn phải gồng gánh thêm các chi phí cho chúng.

Đây chính là câu chuyện của việc cân bằng chi phí vận chuyển và mức chất lượng dịch vụ bạn muốn cung cấp cho khách hàng. Nếu công ty bạn quyết định sở hữu đội xe riêng, điều quan trọng nhất lúc này là chọn lựa đúng loại phương tiện để đáp ứng mục tiêu. Sự kết hợp đúng đắn các loại phương tiện vận chuyển có ý nghĩa lớn ở đây. Bạn có thể thấy việc sử dụng các loại phương tiện giao hàng ở ngoại thành hay ở nông thôn để giao hàng trong trung nội thànhsẽ gặp nhiều trở ngại do các quy định về giao thông nội thành cũng như tình trạng “kẹt xe” diễn ra ngày càng nhiều. Thực tế, lựa chọn loại hình phương tiện giao hàng quan trọng hơn bạn nghĩ, thậm chí trong trường hợp bạn thuê ngoài một 3PL để thực hiện dịch vụ giao hàng chặng cuối.

Hãy lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ có đủ phương tiện để đáp ứng giao hàng chặng cuối

Hãy cố gắng chọn một 3PL không chỉ có thể kết hợp nhiều loại phương tiện phù hợp để giao hàng cho bạn mà còn có thể đáp ứng được sự linh hoạt trong giao hàng. Nói thì luôn dễ hơn làm, nhưng nếu bạn có thể tìm được một nhà cung cấp có quy mô tương tựbạn, bạn có thể đàm phán như là một khách hàng lớn. Khi đó, bạn sẽ có được cam kết về một đội xe lớn hơn so từ họ so với khi đàm phán với một 3PL lớn.

Tương tự, rất đáng để bạn nỗ lực tìm một nhà cung ứng chuyên vận chuyển loại hàng mà công ty bạn cần giao.

Nếu bạn bán các sản phẩm có kích cỡ lớn và cần các thiết bị cơ khí nâng đỡ hạng nặng, công ty vận tải hay một 3PL chuyên vận chuyển các sản phẩm nặng có thể đáp ứng nhu cầu của bạn với mức giá thu hút hơn các công ty vận chuyển các sản phẩm có trọng lượng trung bình. Các công ty chuyên biệt này còn có hiệu quả giao hàng tốt hơn (đúng hẹn) vì các xe tải của họ sẽ không phải chờ để lắp đầy với các sản phẩm có kích cỡ nhỏ và sau đó còn phải giao chúng.

To hơn thì tốt hơn, hay nhỏ thì hiệu quả hơn?

Cân nhắc về không gian bán hàng cũng quan trọng. Giao hàng tại nhà thường có xu hướng tốn nhiều thời gian hơn so với việc giao hàng tại một điểm giao hàng xác định. Khách hàng thường thì không có chỗ để dỡ hàng hay bãi đỗ xe đủ rộng cho xe tải; họ cũng thường khi vắng nhà khi bạn giao hàng đến. Trong thực tế, một công ty LTL ở Hoa Kỳ đã nhận thấy rằng giao hàng tại nhà tốn thời gian gấp 2 lần so với việc giao hàng tại các điểm giao hàng. Đó lại là một lý do nữa để tìm một nhà cung ứng chiến lược chuyên về dịch vụ giao hàng chặng cuối. Tất nhiên, nếu bạn có thể đặt các nút giao hàng của mình thật sự gần với khách hàng –có thể là nhiều nút trong mạng lưới đại đô thị (urban conurbations) – và sản phẩm hay đơn hàng của bạn đủ nhỏ, bạn có thể cân nhắc đến các giải pháp thay thế cho các phương tiện giao hàng to lớn, tiêu hao nhiều xăng dầu.

Ví dụ, vận chuyển bằng xe máy và xe đạp ngày càng trở nên phù hợp hơn cho việc giao hàng nhanh trong thành phố– nơi mà các phương tiện lớn thường bị kẹt trong giao thông ngỗn ngang.

Thật ra, sự phân bố và mật độ phân bố của khách hàng đóng vai trò vô cũng quan trọng trong chi phí và (hoặc) ngay cả chất lượng dịch vụ giao hàng chặng cuối. Do đó, chúng ta sẽ bàn tiếp bên dưới và đi sâu hơn vào chuỗi cung ứng đến các nền tảng mà bạn có thể hoàn toàn đáp ứng được các đơn hàng bán lẻ trên mạng.

Chuyển đổi mục đích sử dụng nhà kho… Thật đó!

 Nếu toàn bộ chuỗi cung ứng của bạn hướng đến việc hỗ trợ hiệu quả dịch vụ giao hàng chặng cuối, bạn cần thiết cân nhắc lại mục đích sử dụng nhà kho của mình. Liệu rằng công ty bạn nên có nhà kho riêng hay chỉ nên thuê nhà kho và một bên thứ ba để vận hành chúng?

“Khi khách hàng muốn một cái gì đó và bạn thì muốn mình luôn có thể đáp ứng được khách hàng trong cùng một giờ, một ngày, hay chỉ qua một đêm thì hơn hết, bạn nên mở rộng chuỗi cung ứng và nâng nó lên một tầm mới.” – David Egan

 

Nếu chiến lược hiện tại của bạn bao gồm việc sử dụng nhà kho để chứa hàng với mong muốn giữ chi phí thấp nhất đến có thể, thì nhiều khả năng, mạng lưới cung ứng của bạn không đủ phù hợp để mang lại một dịch vụ giao hàng chặng cuối hiệu quả. Bản chất của bán lẻ đa kênh là cần nhiều nhà kho hơn nữa (chứ không phải làm giảm số lượng nhà kho) và nó đòi hỏi việc sắp đặt tồn kho gần với điểm tập trung nhiều khách hàng nhất có thể.

Điều này không có nghĩa là chúng ta cần phải điều chỉnh lại toàn bộ mạng lưới phân phối của mình. Chúng ta có nhiều cách để sử dụng cơ sở vật chất hiện tại của mình một cách hiệu quả, và ngay cả các cơ sở vật chất ta có thể thuê ngoài.

Bạn có thể sử dụng chiến lược “hub-and-spoke” kép để phân phối. Việc này đôi khi sẽ yêu cầu bạn phải sử dụng chuỗi cửa hàng bán lẻ của mình (nếu có) như là một điểm đích cho các đơn hàng trực tuyến. Các đơn hàng này được vận chuyểncùng với hàng bán lẻ ở các cửa hàng. Thông qua đó,chi phí vận tải sẽ được cắt giảm so với việc giao các đơn hàng nhỏ lẻ đến tận tay khách hàng. Nếu bạn không có chuỗi cửa hàng bán lẻ tại một khu nào đó, bạn có thể sử dụng các cơ sở phân phối hàng được vận hành bởi một bên thứ ba. “Trung chuyển” (Cross-docking) là một trong những công cụ tiện lợi nhất cho dịch vụ giao hàng chặng cuối hiệu quả, đặc biệt khi bạn đã xây dựng xong một hệ thống phân phối hub-and-spoke.

Khai thác sự phát triển của kho đô thị

Ở một phương diện khác, nếu bạn đang xây dựng hệ thống phân phối từ con số 0, bạn có thể cần cân nhắc đến việc sử dụng vô số kho đô thị – nơi bạn có thể trữ và phân loại tồn kho để giao hàng. Với mô hình phân phối này, sản phẩm của bạn sẽ được giao trực tiếp từ nhà sản xuất đến mạng lưới kho đô thị, và từ đây, các đơn hàng sẽ được chuyển đến khách hàng cuối cùng.

Với cách này, chi phí bỏ ra là thấp hơn so với việc sử dụng một hoặc nhiều trung tâm phân phối lớn; lead time giao hàng cũng được giảm đến mức tối thiểu nếu bạn muốn giao hàng nhanh là điểm khác biệt chiến lược của mình. 3PLs ngày càng ăn nên làm ra trước sự bùng nổ của dịch vụ giao hàng chặng cuối, và cửa hàng vật lý cũng ngày càng khó khăn khi cạnh tranh với các mô hình kinh doanh qua mạng. Rồi thì chúng ta cũng sẽ thấy các cửa hàng vật lý dần dần trở thành các kho đô thị nhỏ. Đây ắt hẳn là một tin tốt đối với các công ty kinh doanh qua mạng với quy mô nhỏ – những công ty đang hướng đến việc tiết kiệm chi phí giao hàng chặng cuối cũng như cải thiện tốc độ đáp ứng và phản hồicủa chuỗi cung ứng. Nếu bạn thật sự không chắc cách tốt nhất để tối ưu hệ thống phân phối và kho bãi phục vụ chiến lược cạnh tranh chặng cuối, bạn có thể liên hệ với các dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp bên ngoài. Họ sẽ giúp bạn phân tích hệ thống phân phối hiện tại của mình và đề xuất một vài mô hình phù hợp để xác định giải pháp hiệu quả nhất.

[Còn tiếp…]

—–

Nguồn: Logistics Bureau

Tín hiệu vui trong khai thác vận tải đường sắt

Tín hiệu vui trong khai thác vận tải đường sắt

Vận tải đường sắt: những tín hiệu khởi sắc

Ngày 9/10/2017, Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn phối hợp với Tổng công ty Đường sắt VN tổ chức ra mắt dịch vụ vận chuyển container lạnh bằng đường sắt tuyến Sóng Thần – Bình Thuận – Lào Cai. Đây là một tín hiệu vui cho ngành vận tải đường sắt để khai thác năng lực tuyến đường sắt Việt Nam.

Theo số liệu báo cáo của Bộ GTVT năm 2015, vận tải hàng hóa bằng đường bộ Bắc Nam chiếm tỷ trọng 77,08%, đường sắt: 0,59%, đường thủy nội địa: 17,16%, hàng hải: 5,156%, hàng không 0,02%. Có thể nói, với hạ tầng còn nhiều yếu kém, độ tin cậy chưa cao đã làm “nản lòng” những chủ hàng muốn chuyển hàng hoá qua vận tải ở tuyến đường sắt. Tuy nhiên, vẫn có những doanh nghiệp logistics có quyết tâm đầu tư vào mảng vận tải đường sắt để khai thác đúng tiềm năng của ngành đường sắt, điển hình là Cty CP giao nhận & vận chuyển Indo Trần (ITL) và Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn (TCSG).

Tiềm năng thị trường

Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – khu vực liên kinh tế Á Âu (EAEU) gồm Armenia, Belarus, Kazakhstan, Nga, và Kyrgyzstan có hiệu lực từ ngày 05/10/2016, đi vào triển khai thực thi được kỳ vọng sẽ đưa kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EAEU tăng đáng kể so với hiện nay. Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và khu vực EAEU năm 2016 đang khoảng 3 tỷ USD và được dự báo sẽ tăng nhanh khi phần lớn các mặt hàng giao dịch được bỏ hoặc giảm thuế nhập khẩu. Để phục vụ nhu cầu vận tải giữa Việt Nam và EAEU, Tổng công ty ĐSVN và Đường sắt Kazakhstan và Đường sắt Nga cũng đang trong quá trình thống nhất các hành trình chạy tàu và các điều kiện lập các đoàn tàu container, xác định các ga tác nghiệp container; xác định các dịch vụ liên quan đến việc tổ chức chuyên chở container trên các hành trình được xem xét; xác định người khai thác có trách nhiệm tổ chức chuyên chở container trên các hành trình.

 

Ảnh: Sơ đồ tuyến đường sắt Việt Nam kết nối với Trung Quốc

 

Bên cạnh đó, nhu cầu vận chuyển bằng đường sắt giữa Việt Nam và Trung Quốc là rất lớn, chẳng hạn nhu cầu nhập khẩu hàng nặng như than cốc, thép, hoá chất… từ Trung Quốc lên đến hàng trăm nghìn tấn/ năm cho mỗi nhóm hàng và nhu cầu xuất khẩu trái cây, thuỷ hải sản, nông sản sang Trung Quốc. Phát biểu tại hội thảo “Giới thiệu thị trường các nước Liên minh Kinh tế Á-Âu và cơ hội thúc đẩy xuất khẩu thông qua VN – EAEU FTA” ngày 25/8/2017, ông Vũ Bá Tùng, Tổng giám đốc ĐSVN dự kiến khối lượng xuất nhập khẩu hàng hoá năm 2017 qua đường sắt sẽ đạt khoảng 890 ngàn tấn, tăng gấp rưỡi so với năm 2016. Khối lượng hàng hóa xuất nhập này chủ yếu là đi từ và đến Trung Quốc, được chuyên chở trên các hành lang vận tải đường sắt như hành lang đường sắt khổ đường 1,000mm: Côn Minh – Sơn Yêu (Trung Quốc) – Lào Cai (Việt Nam) – Hải Phòng; hành lang đường sắt 1,435mm chuyên chở hàng hóa nhập chủ yếu từ Trung Quốc qua cửa khẩu Bằng Tường (Trung Quốc) – Đồng Đăng (Việt Nam) đến ga Yên Viên.

Đón đầu xu hướng giao thương, thương mại toàn cầu, ông Tăng Văn Dũng, Phó trưởng ban Hợp tác quốc tế – Khoa học công nghệ (Tổng công ty ĐSVN) nhận định “Sang năm 2018, khi chính sách thuế biên mậu Việt Nam – Trung Quốc theo đường tiểu ngạch (đi đường bộ qua cửa khẩu) và theo đường chính ngạch (bằng đường sắt) không quá chênh lệch như hiện nay, doanh nghiệp sẽ hướng tới phương thức vận tải an toàn, đi xa, khối lượng lớn, giá cước rẻ như đường sắt”.

Khi nhà logistics tham gia ngành đường sắt

Tháng 9/2015, Tổng công ty Đường Sắt Việt Nam (ĐSVN) và ITL Corp đã ký kết thực hiện Dự án xã hội hoá đầu tiên của ngành đường sắt – Trung tâm Logistic ga Yên Viên (Hà Nội). Dự án này bao gồm 02 giai đoạn thực hiện. Giai đoạn 01 ấn định hoàn thiện trong tháng 9 năm 2016 với tổng vốn đầu tư là 90 tỷ đồng. Sau khi đi vào hoạt động, Ga Yên Viên sẽ là cánh tay nối dài của các cảng biển quan trọng như Hải Phòng, Cái Lân giúp rút ngắn thời gian làm hàng, giảm chi phí logistics cho khu vực Hà Nội và các tỉnh lân cận. Không chỉ vậy, từ Yên Viên sẽ là cảng kết nối quan trọng ở khu vực miền Bắc cho tuyến hàng hoá đi Trung Quốc và các nước khu vực Kazakhstan – Liên bang Nga – EU.

Mới đây, tháng 10/2017, chuyến tàu container đầu tiên của TCT Tân Cảng Sài Gòn đã chính thức đi vào vận hành chuyên chở hàng trái cây tươi bảo quản lạnh đi từ Sóng Thần đến Lào Cai, góp phần giảm chi phí vận tải hàng hoá đáng kể so với đi đường bộ.  Đây là nỗ lực đáng kể của cán bộ nhân viên Tân Cảng Sài gòn trong nghiên cứu, ứng dụng công nghệ quản lý vào vận tải (có thiết bị kết nối mạng với trung tâm điều hành để thông báo tình trạng container như: nhiệt độ, container đang đóng, niêm phong hay đã mở, vị trí toa tàu), cụ thể hỏa thuận hợp tác giữa hai Tổng công ty hồi tháng 4/2017. Theo đó, hai bên sẽ hợp tác đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng kho bãi, thiết bị xếp dỡ, phát triển dịch vụ logistics đường sắt tại các ga hàng hóa hiện hữu của ĐSVN tại các khu ga: Sóng Thần, Yên Viên và Đông Anh; sau đó từng bước mở rộng đầu tư và kinh doanh kết cấu hạ tầng tại các ga hàng hóa trên toàn mạng đường sắt.

Ngày 13/06/2017 Tổng công ty ĐSVN và các đối tác cũng đã tiến hành chạy thử đoàn tàu container chuyên tuyến Côn Minh – Sơn Yêu (Trung Quốc) – Lào Cai (Việt Nam) – Hải Phòng (hành trình 854 km) và ngày 10/08/2017 đã tiến hành chạy thử đoàn tàu container chuyên tuyến Quảng Châu – Nam Ninh – Bằng Tường (Trung Quốc) – Đồng Đăng (Việt Nam) – Yên Viên (hành trình gần 1000 km) và sẽ vận hành ổn định theo nhu cầu thị trường.

Rõ ràng, với sự kiên trì theo đuổi và chuẩn bị của DN ngành đường sắt các doanh nghiệp logistics có tầm nhìn, chúng ta có thể tin tưởng vào sự phát triển của ngành vận tải đường sắt trong tương lai không xa.

Theo NAM LÂM