Mobile Apps STM rút bớt “ưu phiền” trong hoạt động vận tải

Mobile Apps STM rút bớt “ưu phiền” trong hoạt động vận tải

Công ty Manuchar Việt Nam (Manuchar) đã triển khai thành công giải pháp quản lý vận tải STM (Smartlog Transportation Management) để không chỉ cải thiện hiệu quả hoạt động vận tải vốn ngày càng phức tạp mà còn giảm bớt stress cho đội ngũ nhân sự vận tải. Hệ thống STM với ứng dụng điện thoại (mobile apps) dành cho tài xế là chìa khóa cho mỗi ngày làm việc nhẹ nhàng và vui vẻ của đội xe vận tải.

Thách thức khai thác hiệu quả đội xe vận tải

Với doanh nghiệp chuyên về phân phối hàng hóa, việc sở hữu đội xe hàng chục chiếc giúp Manuchar chủ động trong việc điều phối, cung ứng dịch vụ cho khách hàng. Tuy nhiên, cùng với đó là bài toán chi phí vận hành của đội xe: đầu tư mua xe, xăng dầu, phí cầu đường, bảo trì, sửa chữa, đăng kiểm, bảo hiểm, lương thưởng phụ cấp cho anh em tài xế,… Làm sao khai thác tối đa năng lực đội xe không chỉ là mối bận tâm của Manuchar mà còn của hàng ngàn doanh nghiệp sở hữu xe tải.

Thêm vào đó, việc vận hành đội xe của Manuchar vẫn đang theo phương pháp kỹ truyền thống:

  • Kế hoạch điều xe được điều phối vận tải gọi điện thoại thông báo cho tài xế cuối mỗi ngày.
  • Khi bắt đầu chạy và trong suốt hành trình, bác tài hoặc điều phối phải thường xuyên gọi điện qua lại để cập nhật tình hình giao hàng: xe đã đến kho lấy hàng chưa, xe bắt đầu rời kho chưa, có vấn đề gì không, xe đến nhà phân phối chưa… Chưa kể những phát sinh trên đường như xe hỏng, kẹt xe,… lại rút thêm túi tiền điện thoại của 2 bác. Tệ hơn, việc phải nghe điện thoại thường xuyên khi đang chạy xe trên đường khiến các bác tài thường xuyên nhức đầu, còn anh điều phối thì căng não đến nỗi sợ nghe điện thoại.

  • Sau khi hoàn thành chuyến hàng, bác tài còn phải “dứt điểm” nhiệm vụ nộp một loạt chứng từ về cho Kế toán để lưu trữ và kê khai: phiếu nhận hàng, phiếu giao hàng, vé trạm cầu đường, phiếu đổ xăng dầu… Vốn tập trung chuyên môn chạy xe sao cho an toàn, nay phải lo thêm vụ tập hợp chứng từ sau mỗi chuyến nên không tránh khỏi cảnh có bác nhớ, bác quen nộp đầy đủ hồ sơ chuyến đi.

  • Còn với chị kế toán, tưởng tượng 1 ngày 100 chuyến hàng đồng nghĩa với việc phải lưu trữ bản cứng của ít nhất 300 tờ, sau 1 tháng cỡ 9000 tờ. Công việc giấy tờ đồ sộ, cùng với việc chậm trễ trong việc thu thập chứng từ, chốt sổ doanh thu chi phí cuối tháng khiến công việc của của chị luôn rối bời mỗi kỳ chốt số.

Cải tiến quy trình, Manuchar gỡ nút thắt khai thác đội xe

Giải pháp quản lý vận tải Smartlog với mobile apps đã giúp cho quá trình trao đổi thông tin giữa cả 3 bên: bác tài, điều phối vận tải và kế toán viên trở nên thông suốt, đơn giản.

  • Tài xế nhận lệnh điều động qua ứng dụng điện thoại và xác nhận nhanh chóng
  • Trong suốt quá trình giao hàng, khi xe vào kho/rời kho/đến điểm giao/rời điểm giao/qua trạm thu phí, ứng dụng tự động cập nhật mốc thời gian về cho điều phối ở văn phòng xem. Nếu có vấn đề phát sinh trên đường, bác tài dùng ứng dụng để báo cáo về kèm hình ảnh cụ thể, nhanh chóng

  • Hoàn thành chuyến hàng, bác tài chụp hình chứng từ và gửi về qua ứng dụng điện thoại luôn

Với module Mobile Apps, giải pháp STM (Smartlog Transportation management) đã được nâng lên một tầm cao mới trong phục vụ quá trình dịch vụ vận chuyển hàng hóa:

a) Điều phối vận tải: giảm thiểu việc gọi điện thoại cho tài xế, theo dõi tình trạng xe theo thời gian thực (đã lấy hàng, chờ lấy hàng, thời gian chờ đợi là bao lâu,..), nắm bắt thời gian dự kiến xe đến, xe đi để ứng biến nhanh chóng cho toàn bộ đội xe.

b) Bác tài: nhẹ đầu hơn khi không phải lo gọi điện thoại, cập nhật theo thời gian thực tình hình đơn hàng, giao hàng xong có hình ảnh làm bằng chứng ngay (ePOD), bớt nơm nớp vụ quên chứng từ, đỡ mất thời gian cho việc báo cáo mua vé qua trạm, sự cố trên đường.

c) Kế toán viên: đối soát, tra soát tự động, mỗi ngày chạy xong biết ngay doanh số, chi phí, lợi nhuận từng ngày, lợi nhuận theo từng xe, không phải mòn mỏi chờ đợi thống kê cuối tháng.

Ông Nguyễn Thanh Vân – Giám đốc kỹ thuật công ty TNHH Manuchar Việt Nam, trưởng dự án STM, chia sẻ: “Ban đầu khi triển khai giải pháp STM cùng với ứng dụng điện thoại cho tài xế, Manuchar Việt Nam cũng gặp không ít khó khăn, chẳng hạn một số tài xế chưa có smartphone, chưa mua gói 3G hay thói quen gọi điện thoại giữa tài xế và điều phối. Nhưng với tinh thần quyết tâm cải tiến cách vận hành hiện tại, chúng tôi đã đầu tư điện thoại cảm ứng cho toàn bộ đội ngũ tài xế, phụ cấp 3G hàng tháng, đào tạo huấn luyện cách sử dụng ứng dụng vào vận hành hàng ngày”. Chỉ sau 1 tháng, đội ngũ tài xế Manuchar đã thao tác nhuần nhuyễn giúp nghiệp vụ vận tải nhẹ nhàng và trơn tru hơn.”

Ở bãi xe Manuchar cảng nhà Rồng, nhìn hàng chục chiếc xe đậu gọn gàng sau khi về bãi, các bác tài nghỉ mệt vui vẻ xách điện thoại ra lướt ứng dụng điện thoại, xem lịch sử chuyến đi và lương tạm tính của mình, chúng ta sẽ không khỏi tự hào khi giải pháp 100% trí tuệ Việt Nam được nghiên cứu, đề xuất và triển khai thành công. Ông Vân nhấn mạnh: “Tập đoàn Manuchar đã tìm ra phương thức vận hành đội xe hiệu quả, sắp tới công ty sẽ không ngại đầu tư mạnh hơn nữa cho đội xe nhà. Đây là thành quả của tập thể anh chị em Manuchar và các đối tác triển khai”.

Xin bổ sung thêm, Smartlog là công ty 100% Việt Nam tiên phong về phát triển các giải pháp công nghệ thông tin trong hoạt động logistics. Với đội ngũ chuyên gia có nhiều năm kinh nghiệm trong ngành chuỗi cung ứng, logistics và học hỏi kiến thức, mô hình quốc tế, Smartlog đang từng bước thay đổi cách vận hành logistics theo xu hướng cách mạng công nghiệp 4.0, từ đó khách hàng có thể nâng cao chất lượng dịch vụ và cải thiện hiệu quả vận hành nội bộ.

Theo VÂN NGUYỄN

Tín hiệu vui trong khai thác vận tải đường sắt

Tín hiệu vui trong khai thác vận tải đường sắt

Vận tải đường sắt: những tín hiệu khởi sắc

Ngày 9/10/2017, Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn phối hợp với Tổng công ty Đường sắt VN tổ chức ra mắt dịch vụ vận chuyển container lạnh bằng đường sắt tuyến Sóng Thần – Bình Thuận – Lào Cai. Đây là một tín hiệu vui cho ngành vận tải đường sắt để khai thác năng lực tuyến đường sắt Việt Nam.

Theo số liệu báo cáo của Bộ GTVT năm 2015, vận tải hàng hóa bằng đường bộ Bắc Nam chiếm tỷ trọng 77,08%, đường sắt: 0,59%, đường thủy nội địa: 17,16%, hàng hải: 5,156%, hàng không 0,02%. Có thể nói, với hạ tầng còn nhiều yếu kém, độ tin cậy chưa cao đã làm “nản lòng” những chủ hàng muốn chuyển hàng hoá qua vận tải ở tuyến đường sắt. Tuy nhiên, vẫn có những doanh nghiệp logistics có quyết tâm đầu tư vào mảng vận tải đường sắt để khai thác đúng tiềm năng của ngành đường sắt, điển hình là Cty CP giao nhận & vận chuyển Indo Trần (ITL) và Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn (TCSG).

Tiềm năng thị trường

Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – khu vực liên kinh tế Á Âu (EAEU) gồm Armenia, Belarus, Kazakhstan, Nga, và Kyrgyzstan có hiệu lực từ ngày 05/10/2016, đi vào triển khai thực thi được kỳ vọng sẽ đưa kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EAEU tăng đáng kể so với hiện nay. Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và khu vực EAEU năm 2016 đang khoảng 3 tỷ USD và được dự báo sẽ tăng nhanh khi phần lớn các mặt hàng giao dịch được bỏ hoặc giảm thuế nhập khẩu. Để phục vụ nhu cầu vận tải giữa Việt Nam và EAEU, Tổng công ty ĐSVN và Đường sắt Kazakhstan và Đường sắt Nga cũng đang trong quá trình thống nhất các hành trình chạy tàu và các điều kiện lập các đoàn tàu container, xác định các ga tác nghiệp container; xác định các dịch vụ liên quan đến việc tổ chức chuyên chở container trên các hành trình được xem xét; xác định người khai thác có trách nhiệm tổ chức chuyên chở container trên các hành trình.

 

Ảnh: Sơ đồ tuyến đường sắt Việt Nam kết nối với Trung Quốc

 

Bên cạnh đó, nhu cầu vận chuyển bằng đường sắt giữa Việt Nam và Trung Quốc là rất lớn, chẳng hạn nhu cầu nhập khẩu hàng nặng như than cốc, thép, hoá chất… từ Trung Quốc lên đến hàng trăm nghìn tấn/ năm cho mỗi nhóm hàng và nhu cầu xuất khẩu trái cây, thuỷ hải sản, nông sản sang Trung Quốc. Phát biểu tại hội thảo “Giới thiệu thị trường các nước Liên minh Kinh tế Á-Âu và cơ hội thúc đẩy xuất khẩu thông qua VN – EAEU FTA” ngày 25/8/2017, ông Vũ Bá Tùng, Tổng giám đốc ĐSVN dự kiến khối lượng xuất nhập khẩu hàng hoá năm 2017 qua đường sắt sẽ đạt khoảng 890 ngàn tấn, tăng gấp rưỡi so với năm 2016. Khối lượng hàng hóa xuất nhập này chủ yếu là đi từ và đến Trung Quốc, được chuyên chở trên các hành lang vận tải đường sắt như hành lang đường sắt khổ đường 1,000mm: Côn Minh – Sơn Yêu (Trung Quốc) – Lào Cai (Việt Nam) – Hải Phòng; hành lang đường sắt 1,435mm chuyên chở hàng hóa nhập chủ yếu từ Trung Quốc qua cửa khẩu Bằng Tường (Trung Quốc) – Đồng Đăng (Việt Nam) đến ga Yên Viên.

Đón đầu xu hướng giao thương, thương mại toàn cầu, ông Tăng Văn Dũng, Phó trưởng ban Hợp tác quốc tế – Khoa học công nghệ (Tổng công ty ĐSVN) nhận định “Sang năm 2018, khi chính sách thuế biên mậu Việt Nam – Trung Quốc theo đường tiểu ngạch (đi đường bộ qua cửa khẩu) và theo đường chính ngạch (bằng đường sắt) không quá chênh lệch như hiện nay, doanh nghiệp sẽ hướng tới phương thức vận tải an toàn, đi xa, khối lượng lớn, giá cước rẻ như đường sắt”.

Khi nhà logistics tham gia ngành đường sắt

Tháng 9/2015, Tổng công ty Đường Sắt Việt Nam (ĐSVN) và ITL Corp đã ký kết thực hiện Dự án xã hội hoá đầu tiên của ngành đường sắt – Trung tâm Logistic ga Yên Viên (Hà Nội). Dự án này bao gồm 02 giai đoạn thực hiện. Giai đoạn 01 ấn định hoàn thiện trong tháng 9 năm 2016 với tổng vốn đầu tư là 90 tỷ đồng. Sau khi đi vào hoạt động, Ga Yên Viên sẽ là cánh tay nối dài của các cảng biển quan trọng như Hải Phòng, Cái Lân giúp rút ngắn thời gian làm hàng, giảm chi phí logistics cho khu vực Hà Nội và các tỉnh lân cận. Không chỉ vậy, từ Yên Viên sẽ là cảng kết nối quan trọng ở khu vực miền Bắc cho tuyến hàng hoá đi Trung Quốc và các nước khu vực Kazakhstan – Liên bang Nga – EU.

Mới đây, tháng 10/2017, chuyến tàu container đầu tiên của TCT Tân Cảng Sài Gòn đã chính thức đi vào vận hành chuyên chở hàng trái cây tươi bảo quản lạnh đi từ Sóng Thần đến Lào Cai, góp phần giảm chi phí vận tải hàng hoá đáng kể so với đi đường bộ.  Đây là nỗ lực đáng kể của cán bộ nhân viên Tân Cảng Sài gòn trong nghiên cứu, ứng dụng công nghệ quản lý vào vận tải (có thiết bị kết nối mạng với trung tâm điều hành để thông báo tình trạng container như: nhiệt độ, container đang đóng, niêm phong hay đã mở, vị trí toa tàu), cụ thể hỏa thuận hợp tác giữa hai Tổng công ty hồi tháng 4/2017. Theo đó, hai bên sẽ hợp tác đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng kho bãi, thiết bị xếp dỡ, phát triển dịch vụ logistics đường sắt tại các ga hàng hóa hiện hữu của ĐSVN tại các khu ga: Sóng Thần, Yên Viên và Đông Anh; sau đó từng bước mở rộng đầu tư và kinh doanh kết cấu hạ tầng tại các ga hàng hóa trên toàn mạng đường sắt.

Ngày 13/06/2017 Tổng công ty ĐSVN và các đối tác cũng đã tiến hành chạy thử đoàn tàu container chuyên tuyến Côn Minh – Sơn Yêu (Trung Quốc) – Lào Cai (Việt Nam) – Hải Phòng (hành trình 854 km) và ngày 10/08/2017 đã tiến hành chạy thử đoàn tàu container chuyên tuyến Quảng Châu – Nam Ninh – Bằng Tường (Trung Quốc) – Đồng Đăng (Việt Nam) – Yên Viên (hành trình gần 1000 km) và sẽ vận hành ổn định theo nhu cầu thị trường.

Rõ ràng, với sự kiên trì theo đuổi và chuẩn bị của DN ngành đường sắt các doanh nghiệp logistics có tầm nhìn, chúng ta có thể tin tưởng vào sự phát triển của ngành vận tải đường sắt trong tương lai không xa.

Theo NAM LÂM

Logistics cho ngành trái cây xuất khẩu: nghĩ từ câu chuyện bán Kinnow ở Ấn Độ

Logistics cho ngành trái cây xuất khẩu: nghĩ từ câu chuyện bán Kinnow ở Ấn Độ

Ấn Độ là quốc gia lớn đứng thứ hai về sản xuất rau quả trên thế giới. Tuy nhiên, hiện chỉ có dưới 1% sản lượng rau quả đi qua hệ thống bảo quản lạnh đúng nghĩa. Thực tế cho thấy tỷ lệ hao hụt sau thu hoạch là 30%, đồng nghĩa với việc lãng phí tài nguyên đất đai, nước, lao động, nông dược, nông cụ.. để sản xuất ra sản phẩm không bán được. Ông Pankaj Mehta, giám đốc điều hành hãng máy lạnh Carrier ở Ấn Độ và Đông Nam Á, đã chia sẻ câu chuyện của một hộ nông dân cung cấp Kinnow (một loại cam) trong gia tăng giá trị sản phẩm nông nghiệp.

 

Từ câu chuyện bán Kinnow ở Ấn Độ…

 

Kinnow là một đặc sản nổi tiếng ở Abohar, phía Bắc Ấn Độ, có khí hậu mát mẻ. Kinnow được thu hoạch vào tháng 12 đến tháng 3 hàng năm và được bán đi khắp cả nước. Từ tháng 3 trở đi, thời tiết nóng và không thể bán Kinnow do trái cây nhanh chóng hư hỏng, tổn thất cao. Cách bảo quản truyền thống Kinnow là xịt một lớp sáp để hạn chế khả năng ô xy hoá trái cây cũng chỉ giúp tăng thời gian lên 20 ngày so với 10 ngày để sản phẩm tự nhiên. Trong khi đó, nếu được bảo quản lạnh, Kinnow có thể được giữ đến 70 ngày. Duy trì nhiệt độ ổn định ở 4-5 0C và độ ẩm 85-90% là cách tốt nhất để giữ chất lượng trái cây.

 

Hình 1: Chuỗi cung ứng Kinnow truyền thống

 

Nhận thấy được giá trị của việc bảo quản lạnh, ông Charaya, chủ một trang trại Kinnow lớn đã quyết định đầu tư nhà cấp đông sơ bộ và xe tải lạnh để giữ được giá trị sản phẩm lâu nhất.

 

Hình 2: Chuỗi cung ứng Kinnow có bảo quản lạnh

 

Sau khi triển khai, tỷ lệ tổn thất sản phẩm giảm từ 41% xuống còn 10%, mặt khác, thời gian cung cấp sản phẩm kéo dài đến tận tháng 6, giúp ông Charaya giảm được chi phí tổn thất và tăng thêm doanh thu khi bán sản phẩm ở giai đoạn thị trường có thời tiết nóng, nhu cầu Kinnow tăng cao. Lợi nhuận của việc bán Kinnow sau khi đầu tư hệ thống lạnh tăng gấp 7 lần và đảm bảo tăng trưởng bền vững.

 

…nghĩ về xuất khẩu trái cây Việt Nam

 

Việt Nam là quốc gia nhiệt đới giàu tiềm năng về trái cây. Thời gian qua, rất nhiều sự chú ý dành cho ngành rau quả khi giá trị xuất khẩu lần đầu tiên vượt qua dầu thô vào năm 2016 và duy trì “phong độ” tăng trưởng trung bình 30%/năm trong hơn 10 năm. Thậm chí, đã có dự báo năm 2020, giá trị xuất khẩu quả, rau, hoa có thể đạt đến 10 tỷ USD, tức là hơn cả giá trị xuất khẩu dầu thô lúc cao nhất. Trong phiên họp Quốc hội thảo luận vấn đề Kinh tế- Xã hội và ngân sách nhà nước vừa qua, Đại biểu quốc hội Nguyễn Thiện Nhân đã kiến nghị đưa nhóm hàng quả, rau, hoa thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực.

 

Để hiện thực hoá được những con số nói trên sẽ đòi hỏi sự đồng hành lớn của ngành dịch vụ logistics, đặc biệt với nhóm doanh nghiệp liên quan đến bảo quản lạnh. Một số vấn đề cần được quan tâm giải quyết bao gồm:

 

  1. Nhà cấp đông sơ bộ ở vùng trồng chuyên canh: Cần xây dựng khu vực sơ chế tập trung có bảo quản lạnh để giữ giá trị sản phẩm ngay từ đầu ở các vùng trồng chuyên canh. Hiện nay chủ yếu các doanh nghiệp sản xuất rau quả ở Đà Lạt có mô hình nhà sơ chế tập trung. Các khu vực vựa trái cây như ĐBSCL, Tây Nguyên, Tây Bắc.. chưa phổ biến mô hình này.

  2. Vận tải lạnh: vận tải lạnh hiện chủ yếu phục vụ cho ngành thuỷ hải sản, trái cây hầu hết vận chuyển bằng xe tải mui bạt. Với trái cây, cách làm phổ biến hiện nay là xe chạy ban đêm để giảm tỷ lệ hư hỏng. Tuy nhiên, về lâu dài, việc vận chuyển lạnh là cần thiết để đảm bảo giá trị hàng hoá.

  3. Đảm bảo tiêu chuẩn vi sinh: phương pháp phổ biến nhất hiện nay là chiếu xạ để diệt vi sinh trước khi xuất khẩu. Hiện ở phía Nam Việt nam mới chỉ có nhà máy Chiếu xạ An Phú, Thái Sơn và Sơn Sơn với tổng công suất khoảng 100-120 ngàn tấn/năm sẽ không đủ công suất đáp ứng khi nhu cầu xuất khẩu trái cây tăng lên. Đây là nút thắt cần được gỡ bỏ, hoặc phải có biện pháp đảm bảo vi sinh khác, hoặc phải tăng công suất/số lượng nhà máy chiếu xạ lên.

  4. Kho lạnh: hầu hết kho lạnh tập trung quanh khu vực Tp.HCM – Bình Dương – Đồng Nai, rất ít kho lạnh khu vực miền Tây nam bộ, miền Bắc. Phần lớn kho lạnh đang trong tình trạng gần đạt công suất và chủ yếu phục vụ nhóm thuỷ hải sản, thịt đông lạnh do có giá trị cao. Một đặc điểm quan trọng là tính mùa vụ của trái cây sẽ đòi hỏi lượng kho lớn ở một số thời điểm nhất định, nên cần kết hợp uyển chuyển tính mùa vụ của trái cây, thuỷ hải sản để khai thác được diện tích kho lạnh.

  5. Truy xuất nguồn gốc: đây là xu hướng gần như bắt buộc để đáp ứng yêu cầu các thị trường cao cấp như Mỹ, Nhật, EU. Tuy việc truy xuất nguồn gốc chủ yếu phải từ doanh nghiệp chế biến nhưng doanh nghiệp logistics cũng cần đảm bảo hệ thống thông tin để quản lý hàng hoá, vận chuyển, giao hàng chính xác.

 

Đã có những doanh nghiệp nhanh nhạy nắm bắt cơ hội thị trường, chẳng hạn Tân Cảng Sóng Thần đầu tư hệ thống vận tải lạnh bằng đường sắt phục vụ cho trái thanh long xuất khẩu hồi tháng 10 vừa qua.  Sự đồng hành của doanh nghiệp logistics là rất quan trọng để góp phần giảm tổn thất và gia tăng giá trị sản phẩm cho ngành rau quả Việt Nam.

Theo Nam Lâm

 

Sức hấp dẫn của hình thức Click and collect trong thương mại điện tử

Sức hấp dẫn của hình thức Click and collect trong thương mại điện tử

Trong những bài báo trước của Smartlog, chắc hẳn thuật ngữ “Click and Collect” (Đặt hàng trực tuyến và đến cửa hàng lấy hàng) đã được bắt gặp nhiều lần. Trong thế giới thương mại điện tử (e-commerce) mà các ông trùm như Amazon, Alibaba đang chiếm lĩnh, một xu hướng đang rầm rộ trong các nhà bán lẻ này và kể cả các nhà bán lẻ trực tuyến đơn lẻ khác nhằm gia tăng lợi thế cạnh tranh cho mình chính là ý tưởng “Click and Collect”. Loại hình này đã được phổ biến khá lâu nhưng dường như ở Việt Nam chưa được thịnh hành. Bài viết lần này Smartlog xin giới thiệu những thông tin cơ bản về ý tưởng Click and Collect và những lợi ích thực sự mà nó đem lại, không chỉ cho nhà bán lẻ mà cho cả người mua sắm, để chúng ta đánh giá xem, liệu mô hình này có thích hợp và nên được phát huy ở thị trường thương mại điện tử Việt Nam chăng? Nội dung bài này gồm 4 điểm chính:

  • Định nghĩa Click and Collect
  • Lợi ích dành cho người mua sắm
  • Lợi ích cho nhà bán lẻ
  • 3 yếu tố quan trọng khi cân nhắc mô hình Click and Collect

 

  1. Thế nào là Click and Collect?

Click and Collect (Đặt hàng trực tuyến và đến cửa hàng lấy hàng) cho phép người mua sắm mua các mặt hàng trực tuyến rồi sau đó chọn cách đến cửa hàng thực tế để lấy hàng; điều này kết hợp thương mại điện tử (e-commerce) và cửa hàng bán lẻ vật lý với nhau. Mô hình này thường có thể làm cho hành trình mua sắm thuận tiện hơn cho người tiêu dùng: mua hàng từ nhà của họ, và đến nhận các mặt hàng bất cứ khi nào thuận tiện nhất cho họ, thay vì trả tiền cho việc vận chuyển và có thể không mặt để nhận hàng, hoặc chờ đợi đến lúc hàng của họ được giao tới nơi.

Mô hình Click and Collect (còn được gọi là BOPIS – buy online pick up in store) đang trở nên phổ biến nhanh chóng. Khi được thực hiện đúng, nó sẽ mang lại những lợi ích cho người mua sắm cũng như nhà bán lẻ. Người mua hàng đánh giá cao việc tiết kiệm chi phí (vì việc mua hàng tại cửa hàng thường miễn phí), sự tiện lợi và tốc độ. Các nhà bán lẻ cũng có thể có lợi: một số nghiên cứu cho thấy rằng người tiêu dùng cuối cùng chi tiêu nhiều hơn 53% khi đến cửa hàng lấy các sản phẩm họ mua hàng trực tuyến! Hơn nữa, việc xử lý đơn hàng tại các cửa hàng hoặc thậm chí gửi hàng đến một cửa hàng thường hiệu quả về mặt chi phí hơn là gửi trực tiếp đến cho khách hàng. Tuy nhiên, nhiều nhà bán lẻ vẫn đang phải vật lộn để cung cấp loại dịch vụ vô cùng được mong muốn này, hoặc đang gặp khó khăn khi triển khai nó hiệu quả với cơ sở hạ tầng hiện có.

 

69% người mua hàng thích nhận các đơn đặt hàng trực tuyến tại cửa hàng để tránh phí vận chuyển.

LoyaltyOne

 

Để đáp ứng kỳ vọng của khách hàng về một trải nghiệm liền mạch, cá nhân hóa và phù hợp, các nhà bán lẻ cần phải đồng bộ hóa và điều chỉnh vận hành giữa các kênh để hoạt động thống nhất với người tiêu dùng. Mặc dù một thương hiệu có thể hoạt động trên nhiều kênh, người tiêu dùng vẫn coi họ là một, như một công ty duy nhất. Mô hình Click and Collect có những thách thức nhất định đối với các nhà bán lẻ trong việc triển khai, có thể bao gồm:

 

Hệ thống lỗi thời

Nhiều cơ sở hạ tầng, kiến ​​trúc và ứng dụng hiện có của các nhà bán lẻ bị lỗi thời và không kết nối với nhau, và công nghệ không thể theo kịp những cách mới trong việc phục vụ khách hàng.

 

Các giải pháp không đồng bộ

Nhiều hệ thống hiện tại mà các nhà bán lẻ đang sử dụng ban đầu được thiết kế cho một kênh duy nhất. Việc vận hành các hệ thống này thường gây ra những thách thức bất ngờ, ví dụ như chi phí bổ sung cho việc bảo trì, tích hợp kém, nguy cơ bị lỗi và năng suất giảm.

 

Các quy trình thủ công và không hiệu quả

Nhiều phương pháp thủ công và giấy bút vẫn đang được sử dụng trong các cửa hàng, quản lý các đơn đặt hàng của khách hàng hoặc lưu giữ và chuyển hàng.

 

Thông tin khách hàng không chính xác

Thiếu thông tin tập trung của khách hàng khiến cho cửa hàng chỉ thấy được một phần hồ sơ khách hàng, có thể dẫn đến dịch vụ khách hàng kém hơn.

 

Khả năng hiển thị tồn kho không đầy đủ

Thiếu khả năng hiển thị theo thời gian thực (real-time visibility) đối với hàng tồn kho và kết quả bán hàng gây nên việc thiếu kiểm soát tồn kho (inventory) và trong các quyết định phân bổ nguồn lực và mua sắm không sáng suốt.

 

Tại Úc, 42% số nhà bán lẻ hiện đang cung cấp loại hình Click and Collect, và có lẽ là để phản ứng lại với mối đe dọa từ sự gia nhập của Amazon, con số này đã tăng từ 24% vào năm 2015. Để hỗ trợ cho việc lấy đơn hàng tại cửa hàng, 38% nhà bán lẻ cũng cho phép khách hàng trả lại các sản phẩm mua hàng trực tuyến tại cửa hàng.

 

So với Úc, 36% nhà bán lẻ ở Tây Âu và 31% các nhà bán lẻ ở Bắc Mỹ cung cấp dịch vụ Click and Collect. Thị trường Click and Collect của Anh dự kiến ​​sẽ tăng 78% vào năm 2020, lên tới 8,2 tỷ bảng Anh. Điều này không gây ngạc nhiên khi có sự cạnh tranh khốc liệt giữa các nhà bán lẻ trong thị trường Anh và sự thay đổi chiến lược từ giá cả sang tiện lợi.

  1. Tại sao người mua sắm chọn click and collect?

Khách hàng đang chấp nhận loại hình BOPIS bởi vì nó mang lại cho họ sự hài lòng ngay lập tức nhưng với chi phí tiết kiệm khi giao hàng. Click and Collect cung cấp sự tức thời việc giao hàng tại nhà truyền thống thường không thể đáp ứng được, đặc biệt là ở Úc, nơi thời gian giao hàng truyền thống chậm so với các tiêu chuẩn quốc tế.

 

Tùy thuộc vào loại hàng hóa mà khách hàng đang mua, chi phí giao hàng có thể cao. Tại Mỹ, 73% người mua sắm ở siêu thị cho biết họ sẽ đến lấy hàng trong cửa hàng để tránh chi phí vận chuyển và 30% cho biết họ không chuẩn bị chi việc chờ đợi đơn hàng trực tuyến của mình được giao.

 

Loại hình dịch vụ nhận hàng tại cửa hàng cũng giúp khách hàng tránh được các vấn đề về các dịch vụ giao hàng không chuyên nghiệp và tránh việc hàng bị trả lại kho.

 

Nhận hàng tại cửa hàng đặc biệt tiện dụng cho khách hàng mua hàng trực tuyến ngay trước cuối tuần hoặc vào các thời điểm mua sắm cao điểm như Giáng sinh và Lễ Phục sinh khi thời gian là điều quan trọng. Nó cũng có thể giúp giải quyết các vấn đề giao hàng cho nhiều khách hàng sống trong các căn hộ chung cư, hoặc sống hoặc làm việc trong các khu vực khó tiếp cận. Ngày càng có nhiều khách hàng nhận thấy thật thuận tiện khi đặt hàng trực tuyến và sau đó nhận hàng của họ trong giờ ăn trưa hoặc trên đường về nhà.

 

Mua sắm trực tuyến thường không cho phép việc chạm vào sản phẩm – nhưng lấy hàng tại cửa hàng cho phép đánh giá chất lượng, cũng như màu sắc, phong cách và kích cỡ trước khi khách hàng rời khỏi cửa hàng. Bất kỳ vấn đề nào có thể được giải quyết ngay lập tức trong cửa hàng và việc trả hàng thậm chí có thể được xử lý tại cùng một thời điểm nếu sản phẩm không đáp ứng được yêu cầu của khách hàng.

 

Với việc nhiều nhà bán lẻ ngày càng tránh xa cuộc chiến giá trực tuyến truyền thống và nhận ra tầm quan trọng của việc kết nối với khách hàng thông qua nhiều kênh và các điểm tiếp xúc, hình thức Click and Collect là tiến trình tự nhiên trong việc khuyến khích khách hàng trở lại các cửa hàng thực tế.

 

  1. Tại sao nhà bán lẻ áp dụng loại hình Click and Collect?

Các nhà bán lẻ có thể tiết kiệm rất nhiều đối với hình thức Click and Collect. Nó giúp giảm chi phí vận hành và thúc đẩy mua sắm nổi hứng của khách hàng. Các nhà bán lẻ cũng nhận thấy rằng lấy hàng tại cửa hàng cũng cung cấp cho họ nhiều cơ hội để kết nối với khách hàng và nâng cao trải nghiệm của khách hàng.

 

Một trong những lợi ích chính cho các nhà bán lẻ từ những người mua hàng đến cửa hàng để nhận hàng mà họ đã mua trực tuyến là gần 50% khách hàng mua hàng tùy hứng. Một nghiên cứu của Bell và Howell đối với 530 người mua sắm cho thấy 49% khách hàng có khả năng mua một mặt hàng bổ sung khi đến lấy đơn hàng mà họ đã mua trực tuyến.

 

Hội đồng Trung tâm Thương mại Quốc tế đã phát hiện ra rằng 61% người mua sắm khi đến cửa hàng nhận hàng mà họ đã mua trực tuyến đã mua thêm. Tỷ lệ này cao hơn đối với những người mua sắm trẻ tuổi, với 75% người trong độ tuổi từ 35 trở xuống bất chợt mua sắm thêm khi đến nhận hàng.

 

Cung cấp Click and Collect  cũng có nghĩa là khách hàng cảm thấy thoải mái hơn về việc trả lại hàng. Một báo cáo của công ty đóng gói UPS đã phát hiện ra rằng 82% người mua hàng có khuynh hướng mua hàng trực tuyến hơn nếu họ có thể trả lại sản phẩm trong cửa hàng.

Các nhà bán lẻ truyền thống (bricks and mortar) nhận thấy loại hình Click and Collect là một cách để tạo cho mình sự khác biệt hóa và bảo vệ mình trong cuộc cạnh tranh với những người chơi trực tuyến. Tại Mỹ, Walmart thông báo vào tháng trước rằng nó sẽ cung cấp giảm giá cho những người mua hàng đặt hàng trực tuyến, nhưng đã chọn lấy hàng trong các cửa hàng như là một chiến thuật để chống lại Amazon.

 

Khi Amazon đã bắt đầu có mặt thị trường tại Úc, bất kỳ lợi thế cạnh tranh nào cũng sẽ là một lợi thế. Triển khai Click and Collect vào một cửa hàng cho phép các nhà bán lẻ để rút ngắn thời gian bán hàng.

Nhưng việc đưa sản phẩm đến khách hàng sẽ tiếp tục là một thách thức đối với các nhà bán lẻ.

 

Vì vậy, chúng ta có thể mong đợi nhiều nhà bán lẻ sẽ chấp nhận một loại hình Click and Collect chiến lược. Nếu bạn không thể đưa được sản phẩm đến khách hàng, hãy đưa khách hàng đến với sản phẩm.

  1. Ba yếu tố quan trọng khi cân nhắc mô hình Click and Collect

Sự thành công của một chiến lược bán lẻ Click and Collect phụ thuộc vào ba trụ cột chính về công nghệ: nền tảng thương mại điện tử, hệ thống quản lý đơn đặt hàng (OMS) và điểm bán hàng (POS).

 

Nền tảng thương mại điện tử

Nền tảng thương mại điện tử là yếu tố tiếp xúc trực tiếp với khách hàng trong hành trình mua sắm đa kênh (omni-channel). Nó cho phép người tiêu dùng tham gia, nghiên cứu và mua hàng trên web, máy tính bảng, điện thoại di động và thường là, thông qua các phương tiện truyền thông xã hội. Rất nhiều nền tảng thương mại điện tử hiện đại hỗ trợ giao diện đầu cuối cho loại hình Click and Collect, nhưng nơi các nhà bán lẻ thường phải đối mặt với những thách thức là khi họ cố hợp nhất kênh trực tuyến với các hệ thống bán lẻ, đó là lý do tại sao OMS và POS tập trung, tích hợp là rất quan trọng.

 

Hệ thống quản lý đặt hàng (OMS)

Hệ thống quản lý đơn đặt hàng ngày nay phải có nhiều chức năng hơn là chỉ đơn giản quản lý các đơn đặt hàng chỉ qua trực tuyến hoặc chỉ qua cửa hàng. Các nhà bán lẻ cần kho trung tâm cho hàng tồn kho và đơn hàng và yêu cầu một OMS có thể thúc đẩy các trung tâm xử lý đơn hàng trong toàn doanh nghiệp. Các nhà bán lẻ cần có OMS để di chuyển hàng tồn kho hiệu quả và giao hàng cho người tiêu dùng theo cách xử lý đơn hàng mà họ mong muốn. Để nền tảng thương mại điện tử và POS hoạt động hiệu quả, OMS cũng phải trao quyền cho các nhà bán lẻ với các công cụ cần thiết để cung cấp dịch vụ khách hàng đặc biệt và cung cấp trải nghiệm khách hàng liên tục trên tất cả các kênh.

 

Điểm bán hàng (POS)

Một hệ thống POS tại cửa hàng hiện đại, được thiết kế tốt là một thành phần thiết yếu của một hệ sinh thái bán lẻ đa kênh (omni-channel). Các hệ thống POS cho phép các cộng sự hoàn thành chu trình mua hàng đa kênh (omni-channel) bằng cách tiến hành giao hàng tại của hàng cho các đơn hàng được đặt trực tuyến, hoặc thậm chí đặt một đơn hàng mà sẽ được xử lý từ một cửa hàng hoặc nhà kho khác. Tất cả các đơn đặt hàng được xử lý tại POS đều được đưa vào OMS để có cái nhìn toàn diện về đơn hàng của khách hàng trên tất cả các kênh.

 

Có được kiến ​​trúc và công nghệ phù hợp để hỗ trợ các quy trình đa kênh (omni-channel) như Click and Collect cũng giống như có một nền tảng vững chắc cho một ngôi nhà: nó tạo ra nền tảng cho các quy trình hiệu quả và tăng trưởng dài hạn.

—–

Nguồn: Smartlog tổng hợp

 

 

 

Chuỗi cung ứng thế hệ kế tiếp trong thời đại kỹ thuật số: Thương mại hợp nhất

Chuỗi cung ứng thế hệ kế tiếp trong thời đại kỹ thuật số: Thương mại hợp nhất

Các mô hình mới cung cấp cho các nhà bán lẻ cơ hội để tăng hiệu quả hoạt động, cải thiện trải nghiệm của khách hàng trên tổng thể và cuối cùng là tăng doanh số như là một hệ quả tất yếu.

 

Trong thập kỷ qua, thương mại điện tử (e-commerce) đã trở thành động lực hoặc nguồn doanh thu bán lẻ chính. Các nhà bán lẻ thương mại điện tử (e-commerce) như Amazon đã dẫn dắt sự chuyển đổi mô hình kinh doanh này của ngành nhằm cải thiện năng lực bán hàng trực tuyến, làm tăng thêm giá trị cho sự tiện lợi của người tiêu dùng. (more…)