Vừa qua Capgemini đã thực hiện một cuộc nghiên cứu cùng với LinkedIn và báo cáo nghiên cứu chung của họ cho thấy khoảng cách nhân tài kỹ thuật số (digital talent) đang dần mở rộng.

Gần như tất cả các tổ chức đều đồng ý rằng nhân tài kỹ thuật số (digital talent) là quan trọng và họ nhận thức được khoảng cách nhân tài kỹ thuật số (digital talent) đang tồn tại trong tổ chức. Nghiên cứu tiên phong của Capgemini hợp tác với LinkedIn tuy nhiên, cho thấy mặc dù phần lớn các công ty thường xuyên thảo luận về khoảng cách này, nhưng hành động cụ thể để làm cầu nối của nó hiếm khi được thực hiện. Gần 50% các tổ chức được nghiên cứu đã thừa nhận rằng họ đã không nhìn nhận vấn đề tài năng kỹ thuật số (digital talent) một cách nghiêm túc. (more…)

Tất cả mọi người đều đang nói đến digital – kỹ thuật số, và mọi công ty đều muốn trở nên kỹ thuật số. Vậy, bước đầu tiên là bạn phải thực sự hiểu ý nghĩa của nó.

Đối với một số CEO, kỹ thuật số là về công nghệ. Đối với những người khác, kỹ thuật số là một cách mới để thu hút khách hàng. Và đối với những người khác nữa, nó đại diện cho một cách hoàn toàn mới để kinh doanh. Không có định nghĩa nào là không đúng. (more…)

Sáng ngày 22 tháng 11 năm 2017, Viện Quản trị Logistics và Chuỗi cung EDINS kết hợp cùng Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế (Trường Đại học Ngoại Thương), và Công ty Cổ phần giải pháp chuỗi cung ứng Smartlog tổ chức hội thảo “Ứng dụng công nghệ thông tin vào Quản trị Logistics và Chuỗi cung ứng”

Dịch vụ logistics đang phát triển nhanh chóng tại Việt Nam, là một ngành dịch vụ tạo giá trị gia tăng cao đồng thời liên kết, thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác. Quản trị logistics và chuỗi cung ứng là công cụ quan trọng giúp các doanh nghiệp gia nhập hiệu quả vào các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Trong những thập kỷ qua, thế giới đã chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ của các hoạt động logistics cùng với vai trò của công nghệ thông tin như là xương sống của toàn bộ chuỗi dịch vụ logistics. Công nghệ thông tin là một thành phần quan trọng trong hạ tầng mềm của lĩnh vực logistics, mang lại nhiều giá trị gia tăng cho khách hàng từ các dịch vụ sử dụng ứng dụng Công nghệ thông tin. Ứng dụng CNTT không chỉ nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty logistics mà còn góp phần đáp ứng yêu cầu ngày càng gia tăng của khách hàng. Tuy nhiên, sự quan tâm đến việc ứng dụng Công nghệ thông tin vào hoạt động logistics của các công ty logistics Việt Nam vẫn còn hạn chế.

TS. Nguyễn Thị Vân Hà (Đại diện Viện Quản trị Logistics và Chuỗi cung ứng EDINS đã phát biểu) cuộc cánh mạng công nghiệp thứ 4 với các công nghệ ưu việt mang tính đột phá trong các lĩnh vực như Trí tuệ Nhân tạo, Robot, Không gian Mạng, Kết nối Vạn vật, Dịch vụ qua Internet,… từ đó tạo ra các kết quả điển hình của cuộc CMCN 4.0 như là nhà máy thông minh và các mô hình kinh doanh mới, trong đó logistics cũng có những thay đổi rất căn bản. Có thể nói chúng ta đang hướng tới “Logistics Thông minh” – “Smart Logistics” hay “Logistics 4.0”. Cụ thể, nó tác động toàn diện tới con người, quy trình và công nghệ ứng dụng trong logistics và chuỗi cung ứng.

Các doanh nghiệp của Việt Nam  (bao gồm cả doanh nghiệp vận tải, logistics, doanh nghiệp sản xuất và thương mại) cần có sự đột phá trong áp dụng ICT nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng hiệu suất lao động và thậm chí thay đổi phương thức kinh doanh để có thể có khả năng cạnh tranh trong thời gian tới.

Hội thảo này  hy vọng đã góp phần vào việc đưa ra các vấn đề về ứng dụng CNTT trong vận tải, kho bãi, và thanh toán giúp các đơn vị tổ chức doanh nghiệp, giảng viên sinh viên thấy được thực trạng hiện tại, nhưng ứng dụng Công nghệ mới và từ đó sẽ có những đề xuất giải pháp để thực hiện ứng dụng hoặc cải tiến những ứng dụng CNTT tại đơn vị mình.

 

Sau khi hội thảo kết thúc, Đại diện Trường Đại học Ngoại thương và công ty công ty CP giải pháp chuỗi cung ứng Smartlog và Viện Quản trị Logistics và Chuỗi cung ứng EDINS ký kết hợp tác về phát triển ngành logistics tại Việt Nam.

Là một phần của Nghiên cứu Logistics hàng năm lần thứ 22, nhóm nghiên cứu xem xét các chủ đề hiện tại trong chuỗi cung ứng liên quan đến các mối quan hệ của người gửi hàng và 3PL. Các chủ đề của năm nay, trong đó có cả ngành 3PL tại Trung Quốc, gồm có quản lý chi phí chuỗi cung ứng, vai trò của logistics trong các hoạt động nhân đạo và chuỗi cung ứng xanh, được xác định thông qua sự tương tác của nhóm nghiên cứu với các chủ hàng và 3PL trong các cuộc thảo luận, phỏng vấn và hội thảo.

  1. Tình hình 3PL tại Trung Quốc

Động lực phát triển 3PL tại Trung Quốc

Sự tăng trưởng liên tục của sự tổng thể kinh tế ở Trung Quốc đã giúp tạo ra nhu cầu đáng kể cho các dịch vụ logistics bên thứ ba (third-party logistics). Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp đã tập trung vào năng lực cốt lõi của mình và đã cải thiện tốc độ đáp ứng thị trường của họ bằng cách thuê ngoài một số hoặc tất cả các hoạt động logistics của họ.

Ngành công nghiệp sản xuất ở Trung Quốc đã có sự chuyển đổi và nâng cấp đáng kể, dẫn đến yêu cầu lớn hơn đối với các dịch vụ logistics chuyên nghiệp. Nhu cầu tiêu dùng cũng tăng lên nhanh chóng, nhu cầu hàng tiêu dùng nhanh (FMCG), hàng lạnh và hàng ngoại chất lượng cao cũng lớn hơn. Kết quả là các tiêu chuẩn cao hơn đã phát triển về mặt thời gian, chất lượng và an toàn, các dịch vụ logistics chuyên nghiệp, và các năng lực chuỗi cung ứng xuyên biên giới và thương mại điện tử (e-commerce).

Một động lực thúc đẩy khác ở Trung Quốc là sự phát triển tràn lan gần đây của thương mại chuỗi (chain commerce) – một hình thức hoạt động thương mại, trong đó một số cửa hàng trong cùng ngành được liên kết bằng cách bổ sung cổ phần và các công nghệ vận hành để nâng cao tính kinh tế của quy mô.

Theo đó, một số nền tảng thương mại điện tử (e-commerce platform) đã nổi lên, bao gồm Alibaba, Taobao và JD, do đó đã thúc đẩy rất nhiều mô hình kinh doanh như B2B, B2C, C2C và thương mại online-to-offline.

Bên cạnh đó, các chính sách của chính phủ Trung Quốc cũng đã khuyến khích và hỗ trợ sự phát triển của ngành logistics bên thứ ba tại nước này.

Hiện trạng 3PL ở Trung Quốc

Có một số khía cạnh đáng chú ý của tình hình hiện tại về sự phát triển của logistics bên thứ ba, bao gồm quy mô, chủng loại và giá trị.

Quy mô thị trường 3PL Trung Quốc xếp thứ 1 trên thế giới

Theo ước tính của Armstrong & Associates Inc., quy mô thị trường 3PL tại Trung Quốc vào năm 2015 chiếm khoảng 10% chi phí logistics của Trung Quốc. Tổng doanh thu phát sinh trong thị trường 3PL là 162,8 tỷ đô la Mỹ, đứng thứ nhất trên thế giới. Con số này vượt mức của Hoa Kỳ là 1,6 tỷ đô la Mỹ, chiếm 55,7% tổng doanh thu của khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, và chiếm 20,6% tổng doanh thu trên toàn thế giới.

Các loại hình doanh nghiệp 3PL đa dạng hơn

Hầu hết các nhà cung cấp dịch vụ 3PL ở Trung Quốc có nguồn gốc từ các doanh nghiệp trong ngành vận tải, kho bãi và đại lý vận tải truyền thống. Một số 3PL được sinh ra từ ​​dịch vụ logistics của các doanh nghiệp sản xuất và cũng có các công ty 3PL được thành lập bằng cách hợp nhất các nguồn lực logistics của một số doanh nghiệp. Ngoài ra, có một số công ty 3PL mới thành lập được phát triển để đáp ứng nhu cầu của khách hàng và thị trường.

Về mặt sở hữu, có nhiều doanh nghiệp 3PL của nhà nước không chỉ có mạng lưới logistics mở rộng và nguồn tài nguyên phong phú ở Trung Quốc mà còn mở rộng ra các thị trường quốc tế để trở thành các tập đoàn logistics xuyên biên giới. Ngoài ra còn có các doanh nghiệp 3PL nước ngoài đã trở thành những công ty dẫn đầu trong các dịch vụ logistics toàn diện và quản lý chuỗi cung ứng tiên tiến tại Trung Quốc.

Phạm vi dịch vụ được cung cấp bởi các 3PL này khác nhau. Trong khi một số tập trung vào các dịch vụ vận tải hoặc kho bãi, những công ty khác đang mở rộng các chức năng dịch vụ của họ để trở thành nhà cung cấp dịch vụ 3PL toàn diện. Mặc dù phần lớn 3PL ở Trung Quốc chủ yếu dựa vào tài sản, những năm gần đây đã chứng kiến ​​sự gia tăng của các 3PL không có tài sản sở hữu.

Thế mạnh và dịch vụ của ngành 3PL của Trung Quốc

Nghiên cứu cho thấy đã có sự tăng trưởng của các vận hành trên toàn quốc và các mạng lưới thông tin. Liên minh chiến lược đã được phát triển giữa các 3PL và các nhà sản xuất lớn trên toàn cầu. Một số doanh nghiệp 3PL lớn của Trung Quốc đã từng bước mở rộng phạm vi dịch vụ của mình đến các lĩnh vực đa dạng như FMCG, năng lượng, thực phẩm, sản xuất ô tô, ICT và công nghệ cao. Một dịch vụ khác cũng bao gồm ở đây là dịch vụ các giải pháp chuỗi cung ứng một điểm đến (one-stop service) và các dịch vụ tài chính toàn diện bao gồm thanh toán, cung cấp tài chính và quản lý tài sản. Ngoài ra, ngành công nghiệp 3PL của Trung Quốc đã chứng kiến ​​sự tiến bộ rõ rệt trong các dịch vụ chuyên nghiệp và khả năng tùy biến trong các ngành công nghiệp như ô tô, thiết bị gia dụng, chuỗi lạnh, và logistics về kỹ thuật và dự án.

Chuỗi giá trị dịch vụ mở rộng của các công ty 3PL

Các chuỗi giá trị dịch vụ của 3PL tại Trung Quốc tiếp tục mở rộng cả về phía khách hàng (downstream supply chain) và về phía nhà cung cấp (upstream supply chain) trong chuỗi cung ứng để cung cấp các dịch vụ đa dạng, tích hợp và toàn diện cho khách hàng. Dịch vụ vận tải và lưu kho toàn diện vẫn là dịch vụ logistics cơ bản của đa số 3PL. Khi các nhà cung cấp dịch vụ logistics nâng cao năng lực CNTT, họ có thể cung cấp các dịch vụ thông tin logistics có giá trị cho khách hàng của họ. Ngoài ra, ngày càng có nhiều 3PL đang tích cực theo đuổi các dịch vụ logistics giá trị gia tăng như dịch vụ logistics và tài chính và dịch vụ quản lý chuỗi cung ứng tích hợp cho khách hàng của họ.

Đổi mới trong các mô hình dịch vụ 3PL và các hình thức công nghiệp

Ví dụ về những đổi mới bao gồm:

  • Một công ty đã xây dựng mô hình kinh doanh “logistics + internet + tài chính” và phát triển một hệ thống vận hành mạng lưới đường cao tốc thông minh ở Trung Quốc.
  • Công ty thứ hai đã kết nối các cổng trung tâm đường cao tốc ngoại tuyến (offline) với một nền tảng dịch vụ đám mây trực tuyến (online cloud platform). Bằng cách áp dụng ” internet + cơ sở sản xuất + nhà kho/ cửa hàng + cửa hàng phía trước/ nhà máy phía sau”, công ty này đã xây dựng một vòng tròn sinh thái của các ngành công nghiệp thông minh.
  • Một công ty thứ ba đã phát triển một nền tảng dịch vụ chuỗi cung ứng toàn cầu kết hợp với các dịch vụ chuỗi cung ứng sản xuất, dịch vụ chuỗi cung ứng tiêu dùng, trung tâm mua sắm toàn cầu, các dịch vụ chuỗi cung ứng tích hợp sản phẩm và dịch vụ tài chính chuỗi cung ứng.

Những thách thức của 3PL ở Trung Quốc

So với các nước phát triển, Trung Quốc có ít 3PL được biết đến nhiều trên toàn cầu và có tầm ảnh hưởng, ngành công nghiệp 3PL của Trung Quốc thì thấp ở khía cạnh tập trung thị trường. Theo dữ liệu năm 2015 do Armstrong & Associates Inc đưa ra, tổng doanh thu của 3PL lớn nhất ở Hoa Kỳ chiếm 0,91% thị trường 3PL của quốc gia. Để so sánh, chỉ số này của một công ty dẫn đầu ở Trung Quốc chỉ là 0,45%, chứng minh cho mức độ tập trung thị trường thấp hơn nhiều của ngành công nghiệp logistics tại Trung Quốc.

Hầu hết các doanh nghiệp 3PL ở Trung Quốc tập trung chủ yếu vào việc cung cấp cho khách hàng các dịch vụ logistics cơ bản, như vận chuyển và lưu kho. Mặc dù có ưu tiên phát triển các dịch vụ chuỗi giá trị gia tăng, dịch cụ toàn diện từ điểm đầu đến điểm cuối trong chuỗi cung ứng, nhưng những cơ hội đáng chú ý vẫn còn là sự phát triển trong tương lai của dịch vụ logistics cao cấp và các dịch vụ chuỗi cung ứng tích hợp.

Chi phí vận hành tương đối cao và khả năng sinh lợi thấp vẫn gây trở ngại cho sự phát triển vững chắc của 3PL tại Trung Quốc.

Xu hướng phát triển của ngành 3PL Trung Quốc

Lưu ý đến số lượng áp đảo của các doanh nghiệp nhỏ và quy mô thị trường thấp của các doanh nghiệp 3PL ở Trung Quốc, một trong ba chủ đề chính trong Kế hoạch phát triển Logistics trung và dài hạn (2014-2020) của nước này là “tập trung vào việc cải thiện quy mô và sự phát triển sâu rộng của các doanh nghiệp logistics”. Do đó, chính phủ phối hợp thúc đẩy các doanh nghiệp logistics lớn lên dưới hình thức cổ phần, sáp nhập và mua lại, và các liên minh.

Nhiều công ty 3PL ở Trung Quốc nhận thức đầy đủ về sức mạnh của Internet, dữ liệu khổng lồ (big data), điện toán đám mây (cloud computing), trí tuệ nhân tạo (artificial intelligence – AI) và các công nghệ mới nổi khác nhằm tạo điều kiện cho việc chuyển đổi và nâng cấp các mô hình kinh doanh. Một loạt các mô hình logistics tiên tiến về công nghệ, chẳng hạn như “internet + vehicle/goods compatibility”, “internet + cargo agency”, “internet + drop and pull transport”, “internet + contract logistics”, “logistics + internet + finance”, “logistics + internet + big data”, và nhiều thể loại ” internet + ” khác của các mô hình sáng tạo đã và đang nổi lên.

Một lĩnh vực phát triển khác trong tương lai của ngành công nghiệp 3PL của Trung Quốc là sự quốc tế hóa. Khi Sáng kiến ​​về Vành đai và đường bộ (Belt & Road Initiative) – một chiến lược phát triển do Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đề xuất nhằm tập trung vào kết nối và hợp tác giữa các quốc gia Á – Âu – được triển khai, nó sẽ đem lại những cải tiến lớn về cơ sở hạ tầng, tăng cường quan hệ thương mại giữa các quốc gia, giúp phát triển các hoạt động logistics toàn cầu.

  1. Đáp ứng nhu cầu khách hàng trong khi kiểm soát chi phí chuỗi cung ứng

Các nhà bán lẻ đang sử dụng các chuỗi cung ứng đáng tin cậy và dữ liệu kịp thời đáng tin cậy để giúp giữ hàng tồn kho ở mức thấp, giải phóng vốn và giảm chi phí liên quan đến việc lưu trữ sản phẩm. Niềm tin vào chuỗi cung ứng, thông thường đạt được thông qua tăng khả năng hiển thị (visibility), cho phép các chủ hàng tận dụng tối đa mô hình luân chuyển (flow-through) nơi mà các sản phẩm không bao giờ nghỉ ngơi.

Các chủ hàng đang chuyển từ kho hàng rộng lớn sang các trung tâm nhỏ hơn với mức tồn kho theo nhu cầu và được xây dựng theo đơn đặt hàng, điều này được thực hiện bởi độ tin cậy của chuỗi cung ứng.

Các công ty đang nỗ lực để giảm lượng hàng tồn kho trong khi xây dựng nhiều trung tâm phân phối hơn, nhỏ hơn, khiến cho tốc độ, việc lập mô hình chuỗi cung ứng ảo và các quy trình lập kế hoạch dự báo nhu cầu trở nên thậm chí quan trọng hơn.

Cho dù các chủ hàng đang đầu tư vào mạng lưới của họ hoặc dựa vào 3PL, thông tin càng tăng sẽ cho phép các chủ hàng, nhà cung cấp dịch vụ vận tải và logistics tìm ra phương thức vận chuyển tiết kiệm nhất hoặc tránh tăng chi phí cho việc giao hàng nhanh.

Thông tin và tăng cường khả năng hiển thị (visibility) cũng cho phép các chủ hàng và các đối tác 3PL của họ tạo ra một chuỗi cung ứng mang tính phản hồi nhanh, có thể giúp họ đẩy nhanh tốc độ sản phẩm ra thị trường và linh hoạt biến đổi lên xuống dựa trên nhu cầu của thị trường.

Các nhà bán lẻ cũng đang thử nghiệm các giải pháp mới cho việc phân phối chặng cuối (last-mile / final-mile), bao gồm khuyến khích khách hàng nhận các đơn hàng trực tuyến tại cửa hàng với một mức giảm giá. Walmart cung cấp giảm giá cho các mặt hàng trực tuyến trong đó khách hàng mua hàng trực tuyến và đến bất kỳ cửa hàng Walmart nào để nhận hàng.

Walmart cũng đề nghị nhân viên cửa hàng làm nhiệm vụ giao các đơn đặt hàng trực tuyến cho khách hàng vào cuối ca của họ và đang thử nghiệm mô hình ở ba địa điểm.

Logistics ngược (reverse logistics) có thể tốn kém, và một số nhà bán lẻ đang làm việc để giảm thiểu việc khách hàng trả lại. Jet.com cung cấp cho khách hàng một mức giá thấp hơn nếu họ không chọn lựa chọn trả hàng miễn phí. Ben Emmrich, nhà phát triển đối tác chiến lược tại Google Shopping Express và cũng một diễn giả tại hội thảo, cho biết mô hình 3D trong đó người mua sắm có thể xem các mặt hàng trực tuyến và xem các sản phẩm sẽ trông như thế nào trong không gian riêng của họ, chẳng hạn như làm thế nào một món đồ nội thất sẽ phù hợp với kế hoạch cụ thể của khách hàng, có thể giảm thiểu nhu cầu trả lại hàng.

  1. Chuỗi cung ứng nhân đạo và chuỗi cung ứng xanh

Các chuỗi cung ứng nhân đạo thường chứa đựng những điều không chắc chắn cũng như những hạn chế về thời gian và nguồn lực. Thông thường sẽ có ít cảnh báo khi thiên tai xảy ra, mức độ thiệt hại và nguồn lực nào sẽ là cần thiết. Các nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba có thể thu hút công nghệ và chuyên môn của nhân viên để tạo điều kiện thuận lợi cho khả năng phản hồi nhanh.

Tính bền vững trong chuỗi cung ứng đã và đang tiếp tục được cải thiện, và các sáng kiến ​​xanh đang ảnh hưởng đến tất cả mọi thứ từ vận chuyển đến kho bãi.

Khi xe tải trở nên sạch hơn, toàn bộ chuỗi cung ứng sẽ trở nên xanh hơn. Các động cơ được nối kết cung cấp cho bạn khả năng giám sát hành vi và hỗ trợ tài xế để giảm các sự kiện phanh cứng hoặc nghỉ không cần thiết, làm tiêu hao nhiên liệu. Các động cơ cũng có thể báo cáo lại khi mã lỗi phát sinh, và bảo trì kịp thời có thể thúc đẩy tiết kiệm nhiên liệu.

Ngoài ra, công nghệ diesel sạch tiếp tục được cải thiện, và Diễn Đàn Công Nghệ Diesel cho biết các động cơ xe tải diesel sạch chiếm 30% thị trường.

Ngành công nghiệp vận tải đường bộ cũng đang đầu tư vào các phương tiện thay thế, bao gồm cả xe chạy bằng khí tự nhiên, pro-pan hoặc điện.

Điện khí hóa đã trở nên nổi bật hơn trong các thiết bị nhà kho, chẳng hạn như xe nâng hàng và xe tải nhỏ, đặc biệt là trong các ứng dụng đặc biệt, vận tải chặng ngắn nhưng nhiều bài học đã được áp dụng cho Xe tải Loại 8. Elon Musk, CEO của Tesla Inc., đã thông báo rằng công ty có ​​kế hoạch công bố xe kéo Loại 8 đầu tiên sử dụng pin vào cuối tháng 10 năm 2017.

Bởi vì công nghệ pin tinh khiết sẽ quá nặng và quá tốn kém đối với các xe kéo Loại 8 trong vận tải chặng dài, nhiều nhà sản xuất đang sử dụng phương pháp tiếp cận vi mô và các phụ kiện hấp dẫn như quạt làm mát, hệ thống trợ lực lái, phanh, quạt nước và hệ thống HVAC.

Các nhà cung cấp dịch vụ logistics cũng đang nỗ lực để tăng hiệu quả trong phân phối chặng cuối (last-mile / final-mile). Tối ưu hóa tuyến đường (route optimization)khả năng hiển thị trong thời gian thực (real-time visibility) có thể giúp các nhà cung cấp tìm con đường hiệu quả nhất, do đó loại bỏ những kí-lô-mét di chuyển không cần thiết hoặc chạy không tải do tắc nghẽn. Các đổi mới Click-and-collect cũng có thể cắt giảm số kí-lô-mét vận tải cho việc giao hàng.

DHL Express đã tăng số lượng xe đạp mà họ sử dụng để thực hiện giao hàng tại châu Âu. UPS đã tung ra chiếc xe ba bánh trợ giúp bằng điện đầu tiên của mình để phân phối các gói hàng ở Mỹ tại Portland, Oregon vào cuối năm 2016.

Trong nhà kho, các nhà cung cấp logistics và các chủ hàng đang tiết kiệm năng lượng bằng cách đầu tư vào ánh sáng LED và cảm biến chuyển động, sử dụng công nghệ để theo dõi và giảm điện áp, lắp đặt các tấm pin mặt trời trên các tòa nhà.

Vậy là Nghiên Cứu 3PL Logistics hàng năm lần thứ 22 năm 2018 đã khép lại với nhiều chủ đề hiện tại được đưa ra thảo luận hơn so với các năm trước. Nghiên cứu đã tiến triển cả về tầm xa và phạm vi như tỷ lệ tham gia giữa các thành viên và các đơn vị liên kết của các tổ chức đối tác hàng năm của các tổ chức đối tác nghiên cứu logistics bên thứ ba.

Là một phần của quá trình khảo sát năm nay, nghiên cứu thu hút được 580 công ty phản hồi, tăng 65% so với năm ngoái. Các kết quả được đưa ra trong chương “Thực trạng của thị trường 3PL” từ những người dùng hiện tại của các dịch vụ 3PL4PL chủ yếu dựa vào dữ liệu thu thập từ những công ty phản hồi ở Bắc Mỹ (68%), Châu Á (9%) và Châu Âu (17%).

Độc giả nên thận trọng khi so sánh dữ liệu trong báo cáo này với dữ liệu từ báo cáo Nghiên Cứu 3PL Hàng Năm được đưa ra trước năm 2014, vì số người trả lời năm nay tập trung hơn về mặt địa lý.

 

 

——

Nguồn: 2018 22nd Annual Third-Party Logistics Study

 

Tài sản con người giúp tăng cường sức mạnh và tận dụng lợi thế của sự gián đoạn công nghệ

Vai trò của các nhà lãnh đạo chuỗi cung ứng và các nhà quản lý logistics đang được coi trọng hơn bao giờ trong thời đại chuỗi cung ứng kỹ thuật số (digital supply chain) như hiện nay khi các công ty đang làm việc để xây dựng chuỗi cung ứng hiệu quả hơn tiên tiến hơn về mặt công nghệ. (more…)

Phần này tập trung vào rủi ro và khả năng phục hồi trong báo cáo này được thiết kế để xác định những dạng không chắc chắn tiềm ẩn, có thể có hậu quả xấu đến chủ hàng, nhà cung cấp 3PL hoặc cả hai. Một yếu tố liên quan khác cũng rất lớn là nhu cầu của cả hai bên muốn có các nguồn lực giúp nâng cao khả năng hoạt động trong thời gian thực để giảm bớt hoặc giảm nhẹ hậu quả của sự gián đoạn chuỗi cung ứng (supply chain disruption).

Do đó, “các vấn đề theo thời gian thực đòi hỏi các giải pháp theo thời gian thực“, và các nhà sản xuất cần phải biết rằng các bộ phận cần thiết cho sản xuất sẽ đến đúng giờ và với số lượng cần thiết.

Tình hình hiện tại

Dựa trên kết quả của cuộc khảo sát toàn cầu năm nay, 98% chủ hàng và 99% 3PL đã đồng ý rằng hiện tại các công ty 3PL cần phải đáp ứng nhanh hơn với thông tin đầy đủ, chính xác và nhất quán.

Nghiên cứu 3PL hàng năm cho thấy rằng nhu cầu cần thiết cho cả chủ hàng và 3PL của họ là phải có sự tham gia của cá nhân và doanh nghiệp về các chiến lược và khả năng giúp giảm thiểu, giảm nhẹ và loại bỏ một số loại rủi ro nhất định trong mối quan hệ của họ, cũng như phát triển khả năng phục hồi để đối phó với sự không chắc chắn và các tình huống bất lợi có thể xảy ra.

Để tiếp tục điều tra mối quan tâm này, các nhà nghiên cứu đã giải quyết một số chủ đề liên quan đến vai trò của quản lý rủi ro và khả năng phục hồi trong mối quan hệ giữa chủ hàng và 3PL, bao gồm:

  • Cơ cấu mối quan hệ hiệu quả của chủ hàng-3PL (đầu vào-quy trình-đầu ra)
  • Phát triển, thực hiện và hưởng lợi từ các quy trình quản lý rủi ro chính thức
  • Hiểu được nguyên nhân và hậu quả của việc thiếu thông tin đầy đủ / chính xác / nhất quán giữa chủ hàng và 3PL
  • Sử dụng các công nghệ thông tin có năng lực để tạo ra và tạo điều kiện cho sự phục hồi cần thiết để tránh và phục hồi từ các hoàn cảnh bất lợi.

Mối quan hệ giữa chủ hàng và 3PL

Bất kỳ mối quan hệ thành công nào cũng thường đòi hỏi thời gian, nổ lực và cam kết đáng kể của các bên liên quan. Một số, nhưng không phải tất cả, những điều kiện tiên quyết để thành công bao gồm:

  • Quy trình thiết kế giải pháp và giao hàng
  • Tập trung vào các luồng công việc liên quan được thực hiện nhất quán qua các tổ chức toàn cầu
  • Các quy trình kịp thời để giải quyết các vấn đề
  • Quản lý và khả năng hiển thị trừ điểm đầu đến điểm cuối tất cả các quy trình liên quan với nhau
  • Giảm thời gian chu trình và sai biệt của quy trình
  • Giao tiếp hiệu quả bằng cách sử dụng các năng lực CNTT hiện đại
  • Tránh các sự lộn xộn không cần thiết trong tính kết nối và tính liên tục của quy trình
  • Định lượng các quy tắc kinh doanh

Một quan sát thú vị từ nghiên cứu của năm nay là trong khi 43% các chủ hàng nghĩ mình là khách hàng “chiến lược” của các nhà cung cấp dịch vụ 3PL, thì chỉ 31% 3PL cảm thấy rằng khách hàng của họ quản lý họ như một đối tác chiến lược.

Đây có thể là dấu hiệu đầu tiên của mối quan hệ kém hoàn hảo giữa các bên bởi những suy nghĩ khác nhau về vai trò của mỗi người. Ngoài ra, rõ ràng từ nghiên cứu rằng các chủ hàng có quan điểm cao hơn nhiều về khả năng của họ trong việc “quản lý” 3PL so với quan điểm của các công ty 3PL.

Quản lý rủi ro

Để tăng cường sự hiểu biết về quản lý rủi ro, sẽ rất hữu ích nếu ta xem xét “3-R” trong mối quan hệ chủ hàng – 3PL: rủi ro, khả năng chống lại và hồi phục (risk, resilience, recovery).

Các bước được chấp nhận rộng rãi trong hầu hết các quy trình quản lý rủi ro bao gồm: 1) Lập kế hoạch quy trình; 2) Xác định rủi ro; 3) Phân tích và đánh giá; 4) Giảm nhẹ hoặc loại bỏ; và 5) Đánh giá và cải tiến.

Hình 14 biểu thị phản ứng của chủ hàng và 3PL khi được hỏi về những lĩnh vực mà 3PL cần phải cải tiến trong quá trình đánh giá rủi ro.

Các lĩnh vực cải tiến do chủ hàng đề cập bao gồm: cần cải tiến liên tục (49%), triển khai nhanh hơn (50%); đào tạo hiệu quả (44%); và tự động hoá hiệu quả (42%).

Khi so sánh các tỷ lệ phần trăm với những phản hồi đó từ 3PL, rõ ràng là tỷ lệ phần trăm lớn hơn của các chủ hàng cho thấy nhu cầu theo đuổi các lĩnh vực cần cải thiện.

Các lĩnh vực cần cải tiến

64% các chủ hàng và 79% 3PL báo cáo rằng họ đã tham gia vào các dự án nơi mà khả năng thực hiện nhanh chóng bị ảnh hưởng trực tiếp bởi việc thiếu thông tin đầy đủ, chính xác và nhất quán do người gửi hàng cung cấp. Hình 15 cho thấy một số hậu quả mà người trả lời khảo sát đã báo cáo khi phải đối mặt với những lo ngại này.

Một quan điểm thú vị được cung cấp trong Hình 16 xác định các nguyên nhân chính có thể gây cản trở các nhà cung cấp 3PL trong  việc đưa ra các quyết định cần thiết một cách kịp thời.

Phổ biến nhất trong số này là sự thiếu rõ ràng và sở hữu các thông tin cần thiết. Các nguyên nhân đáng kể khác là những hoàn cảnh mà các hệ thống nội bộ có khả năng như TMS, WMS, CRM, ERP … không có sẵn.

Quản lý các mặt quan trọng kết nối chủ hàng và 3PL

Những mặt có hệ quả trực tiếp nhất đến mối quan hệ chủ hàng-3PL là sự giao tiếp trực tiếp giữa chủ hàng và 3PL, mà những người tham gia tại hội thảo cho biết đôi khi còn thiếu.

Hình 17 tập trung vào một số nguyên nhân gốc rễ của các vấn đề có thể xảy ra, ví dụ như việc sử dụng email để liên lạc, thiếu ngữ cảnh trong email hoặc cuộc gọi điện thoại v.v.

Nguyên nhân gốc rễ khác được đề xuất bởi những chủ hàng trả lời khảo sát bao gồm: khối lượng công việc cao, thiếu thời gian và / hoặc chi tiết để đáp ứng đúng cách, thiếu tài năng có kinh nghiệm và có năng lực, nhu cầu phải có sự hiểu biết rõ ràng về rủi ro, tính cấp bách và chi phí duy trì.

Những nguyên nhân được đề cập trong cuộc khảo sát bởi 3PL bao gồm: thiếu các công cụ mô hình hóa để xác định nhu cầu về năng lực, thông tin không đầy đủ, không chính xác và không nhất quán, sự đa dạng của các quan điểm và kỹ năng, thiếu dữ liệu sẵn có, các rào cản và cuộc chiến giữa các bộ phận làm hạn chế sự hợp tác, các triết lý về nguy cơ pháp lý, và các mục tiêu thay đổi nhanh chóng.

Vì các chủ hàng đang tin cậy 3PL với “thương hiệu” của họ, cần có sự phát triển mạnh mẽ và có hiệu quả các mối quan hệ với các đối tác giao hàng. Khả năng nhận thức kịp thời các chuyến hàng bị mất hoặc bị hư hỏng là cần thiết để duy trì các tiêu chuẩn cao nhất của quá trình hoàn thành đơn hàng. Một yêu cầu khác cho 3PL là cung cấp cho khách hàng khả năng hiển thị theo thời gian thực (real-time visibility) về tình trạng tồn kho và tình trạng đơn hàng trên toàn cầu.

Tóm tắt các điểm chính

  • Cả chủ hàng và 3PL gần như đồng ý rằng 3PL cần phải đáp ứng nhanh hơn với những thông tin kịp thời, chính xác và nhất quán. Để đạt được điều này, cả hai bên cần phải có các chiến lược chung và riêng và các năng lực giúp giảm bớt, giảm nhẹ và loại bỏ một số loại rủi ro nhất định trong mối quan hệ của họ. Họ cũng phải phát triển khả năng phục hồi để đối phó với sự không chắc chắn và các tình huống bất lợi có thể xảy ra.
  • Có khoảng cách giữa tỷ lệ phần trăm của các chủ hàng nghĩ rằng họ là những người mua “chiến lược” của dịch vụ 3PL3PL báo cáo rằng họ cảm thấy khách hàng quản lý họ như một đối tác chiến lược.
  • Khung thời gian rất quan trọng để phát triển các chiến lược và chiến thuật thích hợp để đối phó với rủi ro và khả năng phục hồi.
  • Không thiếu các đề xuất về cách thức cả bên gửi hàng và 3PL có thể cải thiện thực hành của mình liên quan đến rủi ro và khả năng phục hồi. Trong số các đề xuất, ưu tiên cao nhất là cần phải triển khai nhanh hơn, đào tạo hiệu quả và tự động hiệu quả.
  • Cả chủ hàng và 3PL có thể gặp nhiều hậu quả khi thông tin ở mặt người gửi hàng-3PL không hoàn chỉnh, chính xác hoặc nhất quán, bao gồm sự thất vọng tại tổ chức và sự chậm trễ hoặc hủy bỏ của dự án.
  • Nhiều 3PL (79%) hơn so với các chủ hàng (64%) báo cáo rằng họ đã tham gia vào các dự án nơi mà khả năng triển khai nhanh chóng bị ảnh hưởng trực tiếp do thiếu thông tin đầy đủ, chính xác và nhất quán do người gửi hàng cung cấp.
  • Hơn một nửa số chủ hàng (59%) và 3PL (65%) cho biết hành động không rõ ràng và thiếu quyền sở hữu có thể ảnh hưởng đến khả năng của 3PL trong việc ra quyết định kịp thời.
  • Đề xuất cải tiến bao gồm rõ ràng hơn về các hành động và quyền sở hữu các quy trình và quyết định cũng như sự sẵn có của các hệ thống nội bộ, có khả năng kết nối.
  • Một sự tương đồng thú vị với chủ đề đối phó với rủi ro và khả năng phục hồi là ý tưởng thay thế các năng lực “chỉ huy và kiểm soát” (command and control) bằng một động thái phát triển “đội của đội” (teams of teams). Quan điểm này được phổ biến bởi Tướng Stanley McChrystal trong cuốn sách gần đây của ông có tiêu đề Team of Teams: New Rules of Engagement for a Complex World.

 

 

—–

Nguồn: 2018 22nd Annual Third-Party Logistics Study

 

Tự động hóa (automation) đang thay đổi mọi thứ, từ những phương tiện vận chuyển sản phẩm đến các hoạt động kho bãi đồng thời hỗ trợ người lao động trong suốt chuỗi cung ứng.

Các quyết định dựa trên dữ liệu là chìa khóa để tăng cường sử dụng tài sản, nâng cao hiệu quả và giảm sự biến động trong chuỗi cung ứng. Do vậy, vai trò của dữ liệu và sự cần thiết phải nắm bắt và truyền tải thông tin tiếp tục gia tăng. (more…)

Việc ra quyết định dựa vào dữ liệu cho phép các chủ hàng và 3PL tăng hiệu quả, hợp lý hóa hàng hoá và quản lý hàng tồn kho một cách chính xác. Những người trong chuỗi cung ứng đồng ý rằng việc có thêm thông tin có thể giúp thúc đẩy các kết quả tốt hơn. Tuy nhiên, các công ty đang phải vật lộn để tích hợp luồng thông tin và tận dụng được giá trị từ dữ liệu liên quan đến mỗi chuyển động của lô hàng.  (more…)

Nhu cầu của người gửi hàng, kỳ vọng của khách hàng và năng lực của 3PL tăng, đưa chuỗi cung ứng đến một vị thế mới.

Nghiên cứu 3PL logistics hàng năm thứ 22 cho thấy các chủ hàng đang tiếp tục hợp tác với 3PL để tăng cường mối quan hệ của họ và tối ưu hóa chuỗi cung ứng. (more…)

Nghiên cứu hàng năm về 3PL logistics được tiến sĩ C. John Langley, giáo sư về chuỗi cung ứng và hệ thống thông tin và là giám đốc phát triển tại Trung tâm nghiên cứu chuỗi cung ứng của phân khoa Smeal College of Business thuộc trường Pennsylvania State University, khởi động cách đây 22 năm để ghi lại sự chuyển đổi ấn tượng của ngành 3PL đang phát triển nhanh chóng.  (more…)

Theo kinh nghiệm từ McKinsey, những thành công bước đầu trong quá trình chuyển đổi kỹ thuật số thường bị phá vỡ theo thời gian. Chỉ có những công ty chiến thắng trong cuộc đua kỹ thuật số mới thực sự biết phải làm gì để vượt qua thử thách đó.

 

Các công ty lâu đời đã có những bước tiến quan trọng trong đổi mới kỹ thuật số. Bạn sẽ khó có thể tìm được doanh nghiệp nào chưa đưa ra các ứng dụng, thiết kế lại trang web của mình, điều khiển các công cụ kỹ thuật số hoặc mở một tài khoản trên Twitter. (more…)

Việc đưa ra quyết định trong kinh doanh là công việc quan trọng nhất của bạn – và cũng là rủi ro nhất. Phát triển sản phẩm mới, sáp nhập và mua lại, thuê nhân viên – quyết định về bất kỳ điều nào trong đây cũng có thể làm hỏng công ty của bạn, dự án và có khi cả sự nghiệp của bạn.

Vậy các quyết định tồi tệ đến từ đâu? Các nhà nghiên cứu tại đại học Harvard đã chỉ ra những chiếc bẫy vô hình luôn ẩn chứa trong lối suy nghĩ của chúng ta trong việc đưa ra quyết định. Smartlog sẽ tóm tắt những điểm chính trong bài viết này. (more…)