Nếu các nhà hoạch định chính sách và các doanh nghiệp đi đúng hướng, việc kết nối các thế giới vật lý và kỹ thuật số có thể đem lại giá trị kinh tế lên tới 11.1 nghìn tỷ USD/năm vào năm 2025.

Internet of Things – cảm biến và các thiết bị truyền động kết nối bằng các mạng lưới tới các hệ thống máy tính – đã nhận được sự quan tâm rất lớn trong 5 năm qua. Báo cáo gần đây nhất của McKinsey Global Institute (MGI) về IoT mang tên : “Internet of Things: Mapping the value beyond the hype” đã nổ lực xác định chính xác cách mà công nghệ IoT có thể thực sự tạo ra giá trị kinh tế như thế nào.

Phát hiện chính của báo cáo là sự cường điệu hóa IoT gần đây có thể thực sự chưa nói lên được tiềm năng của nó – và việc nắm bắt được nó sẽ đòi hỏi sự hiểu biết rằng phải tập trung vào đâu để có thể tạo ra giá trị và nỗ lực thành công để giải quyết một loạt các vấn đề về hệ thống, bao gồm tính tương hợp.

 

Để có được cái nhìn rộng hơn về những lợi ích và thách thức tiềm ẩn của IoT trong toàn bộ nền kinh tế toàn cầu, MGI đã phân tích hơn 150 trường hợp (use case), từ những người có thiết bị giám sát sức khoẻ cho đến các nhà sản xuất sử dụng bộ cảm biến để tối ưu hóa việc bảo trì thiết bị và bảo vệ sự an toàn của công nhân. Phân tích thực tế của MGI cho các ứng dụng này ước tính rằng IoT có tổng tác động kinh tế tiềm năng từ 3.9 nghìn tỷ đến $ 11.1 nghìn tỷ USD một năm vào năm 2025. Tính ra, mức giá trị đó, bao gồm cả thặng dư tiêu dùng- sẽ tương đương với khoảng 11% giá trị nền kinh tế thế giới (xem hình bên dưới).

Unlocking the potential of the Internet of Things_1

 

Đạt được ảnh hưởng này sẽ đòi hỏi phải có các điều kiện nhất định, đặc biệt là vượt qua rào cản kỹ thuật, tổ chức và quy định. Đặc biệt, các công ty sử dụng công nghệ IoT sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển các hệ thống và quy trình phù hợp để tối đa hóa giá trị của nó. Dưới đây là một số phát hiện chính của nghiên cứu:

 

  • Khả năng vận hành qua lại được (inter-operability) giữa các hệ thống IoT là rất quan trọng. Trong tổng giá trị kinh tế mà IoT mang lại, khả năng tương tác qua lại được giữa các hệ thống chiếm trung bình là 40% và khoảng 60% trong một số trường hợp.
  • Hiện tại, hầu hết các dữ liệu IoT đều không được sử dụng. Ví dụ, trên giàn khoan dầu có 30,000 bộ cảm biến, chỉ có 1% dữ liệu được kiểm tra. Đó là bởi vì thông tin này được sử dụng chủ yếu để phát hiện và kiểm soát dị thường-không phải để tối ưu hóa và dự đoán, điều mà cung cấp giá trị lớn nhất.
  • Các ứng dụng B2B có lẽ sẽ thu được nhiều giá trị hơn – gần 70% – so với sử dụng từ khách hàng cá nhân, mặc dù các ứng dụng tiêu dùng, như màn hình thể dục và xe ô tô tự lái, thu hút nhiều sự chú ý và có thể tạo ra giá trị đáng kể.
  • IoT có tiềm năng lớn trong các nền kinh tế đang phát triển. Tuy nhiên, MGI ước tính rằng nó sẽ có tác động giá trị tổng thể cao hơn ở các nền kinh tế tiên tiến vì giá trị sử dụng cao hơn. Tuy nhiên, các nền kinh tế đang phát triển có thể tạo ra gần 40% giá trị của IoT, và gần một nửa ở một số trường hợp.
  • Khách hàng sẽ hưởng được hầu hết các lợi ích. MGI ước tính rằng người sử dụng IoT (các doanh nghiệp, các tổ chức khác và người tiêu dùng) có thể đạt được 90% giá trị mà các ứng dụng IoT tạo ra. Ví dụ, trong năm 2025 giám sát từ xa có thể tạo ra khoảng 1.1 nghìn tỷ USD một năm về giá trị bằng cách cải thiện sức khoẻ của bệnh nhân mạn tính.

Một ngành công nghiệp năng động đang phát triển xung quanh công nghệ IoT. Giống như các sóng công nghệ khác, cả những công ty hiện tại và những người chơi mới đều có cơ hội. Số hóa đã làm mờ đi ranh giới giữa các công ty công nghệ và các loại hình kinh doanh. Các nhà sản xuất máy móc công nghiệp, chẳng hạn, đang tạo ra mô hình kinh doanh mới bằng cách sử dụng liên kết IoT và dữ liệu để cung cấp sản phẩm của họ như là một dịch vụ.

Số hoá máy móc, phương tiện, và các yếu tố khác của thế giới vật lý là một ý tưởng mạnh mẽ. Ngay cả ở giai đoạn đầu, IoT cũng đã bắt đầu có tác động thực sự bằng cách thay đổi cách thức người ta sản xuất và phân phối hàng hoá, cách thức phục vụ và tinh chế sản phẩm, cũng như cách thức các bác sĩ và bệnh nhân quản lý sức khoẻ. Nhưng nắm bắt đầy đủ tiềm năng của các ứng dụng IoT sẽ đòi hỏi sự đổi mới trong công nghệ và mô hình kinh doanh, cũng như đầu tư vào năng lực và tài năng mới. Với các động thái chính sách nhằm khuyến khích khả năng tương tác, đảm bảo an ninh và bảo vệ sự riêng tư và quyền sở hữu, Internet of Things có thể bắt đầu đạt được những tiềm năng của nó – đặc biệt nếu các nhà lãnh đạo thực sự nắm lấy sự hỗ trợ của việc quyết định dựa vào dữ liệu.

 

—-

Nguồn: Report McKinsey Global Institute, 06/2015, tham khảo toàn bộ báo cáo tại ĐÂY

Không gian nền tảng IoT thì quan trọng, nhưng chúng lại quá đông đúc và rối rắm. Làm thế nào bạn có thể tìm trong đó một nền tảng dành đúng cho doanh nghiệp mình?

 

Các nền tảng muôn hình vạn trạng

 

Để đạt được giá trị từ Internet of Things (IoT), việc cần phải có một nền tảng (platform) để tạo và quản lý ứng dụng, chạy các phân tích, lưu trữ và bảo mật dữ liệu của bạn là một điều cần thiết. Giống như một hệ điều hành dành cho máy tính xách tay, một nền tảng làm rất nhiều thứ đằng sau đó, giúp cho cuộc sống của các nhà phát triển, nhà quản lý và người dùng dễ dàng hơn và ít tốn kém hơn.

(more…)

Mới đây, Intel đã công bố ra mắt nền tảng logistics kết nối –  Intel Connected Logistics Platform (Intel CLP).

Nền tảng này mang lại cho các công ty mức độ hiểu biết sâu sắc về tình trạng tài sản trong suốt hành trình thông qua chuỗi cung ứng, cho phép họ đưa ra các quyết định thông minh, theo thời gian thực, mà qua đó có thể giảm thiểu tổn thất hoặc hư hỏng của vận chuyển, tối đa hóa việc sử dụng tài sản và tối ưu hóa vận hành chuỗi cung ứng từ điểm đầu đến điểm cuối.

(more…)

Thị trường chuỗi cung ứng trị giá hơn một nghìn tỷ USD và là một thị trường sôi động, khó khăn cho các công ty khởi nghiệp (start-up).

Với quy mô khổng lồ của toàn bộ thị trường chuỗi cung ứng, các công ty ngành dọc (và các start-up) thường chủ yếu được thảo luận một cách riêng lẻ. Cho nên, sẽ rất thú vị nếu ta xem xét các start-up dưới một góc nhìn liên quan đến chuỗi cung ứng nói chung và sẽ sớm nhận thấy những đặc điểm chung nổi bật.

(more…)

Các nhà cung cấp dịch vụ vận tải logistics đã và đang gặp phải những va chạm mới với những “kẻ gây rối” vừa gia nhập ngành với những hiểu biết về công nghệ để giành được thị phần trong bài toán giao hàng chặng cuối (last-mile delivery) trong thương mại điện tử (e-commerce).

Một mặt, chúng ta hiện đang có một số công ty dịch vụ vận tải và logistics lớn nhất trên thế giới, với các công ty như UPS, FedEx, XPO Logistics và nhiều công ty khác có tài sản ít hay tài sản nhiều đang tìm cách cải thiện vị thế thống trị của họ khi mà các nhà vận tải giao hàng chặng cuối chính trong ngành đang phục vụ cho thị trường thương mại điện tử (e-commerce) đang phát triển chóng mặt, với trị giá 2 nghìn tỷ USD.

(more…)

Trong một bước ngoặt tuyệt vời, công nghệ đang làm cho các nguyên tắc cơ bản của quản lý chuỗi cung ứng trở nên lỗi thời hơn bao giờ hết. Tại Nga, Adidas đã tăng doanh số bán hàng ở Moscow lên gấp đôi trong vòng 24 giờ nhờ vào một sáng kiến trong chuỗi cung ứng. Đồng thời Amazon đang xem xét việc sử dụng máy bay không người lái (drone) để giao hàng, một động thái rất tốn kém, nhưng công ty cho biết họ sẽ tăng doanh thu.

(more…)

Từ các robot di động trong nhà kho đến các máy bay không người lái (drone) để thực hiện đơn hàng trực tuyến, chuỗi cung ứng hiện nay đang trải qua một sự chuyển đổi lớn. Với những khả năng trong trí tuệ nhân tạo (artificial intelligence – AI), chuỗi cung ứng trong tương lai hứa hẹn sẽ hoàn toàn tự động và tự chỉ huy, sắp xếp. Một đội xe tải sử dụng thuật toán tối ưu bầy đàn *(swarm algorithm optimization) có thể làm tăng thông lượng trong bãi hàng. Một máy chủ lưu trữ mạng ngang hàng (peer-to-peer ledger) đáng tin cậy trên kiến trúc blockchain có thể cách mạng hóa ý nghĩa của sự tuân thủ trong ngành, và một loạt các thiết bị đeo trên người, robot di động, cũng như các phương pháp tiếp cận machine learning (máy học) có thể nhanh chóng làm tăng tốc độ của xử lý đơn hàng. Hơn nữa, các nền tảng Internet of Things (IoT platform) cho môi giới điện tử có thể kết nối các nhà bán lẻ với các công ty chuyển phát và vận chuyển bằng một cú nhấp chuột duy nhất.

(more…)

Một trong những xu hướng hàng đầu trong thế giới kinh doanh trong 12 tháng qua chính là tự động hóa (automation). Tự động hóa (automation) đã sẵn sàng để biến đổi cách chúng ta thực hiện mọi thứ. Các chủ đề như Robot tự động hóa quy trình (Robotics Process Automation – RPA) có thể tự động hoá và loại bỏ các tác vụ nhàm chán, lặp đi lặp lại hoặc các ứng dụng Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence – AI) đằng sau những chiếc xe tự lái thu hút được sự chú ý của các nhà lãnh đạo kinh doanh trên khắp mọi nơi.

(more…)

Những ngày đầu tập trung vào phần thành vận tải của chuỗi cung ứng, 3PL hiện nay đang cung cấp một loạt các dịch vụ hỗ trợ kho bãi và phân phối cho khách hàng của họ.

Hiện nay quản lý hoạt động logistics của đa dạng các cơ sở khác nhau, các nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba – third-party logistics providers, hay thường gọi là 3PLs, đã đi một chặng đường dài kể từ khi ra đời vào những năm 1970. Ví dụ như để đáp ứng nhu cầu, 3PLs mở rộng dịch vụ của họ không chỉ bao gồm phối hợp và quản lý logistics từ điểm đầu đến điểm cuối, mà còn tích hợp công nghệ (như hệ thống quản lý vận tải TMS và hệ thống quản lý kho WMS), các chức năng vận chuyển toàn cầu cũng như các dịch vụ kho bãi / hỗ trợ phân phối.

(more…)

Báo cáo mới nhất của McKinsey về Tương lai của ngành bán lẻ trong thời đại kỹ thuật số* đã nêu bật lên các xu hướng chính mà sẽ xác định một thời kỳ bán lẻ mới trong thời đại 4.0 sắp tới đây và xem xét cách các nhà bán lẻ truyền thống cần phải làm gì để phát triển. Bài báo dưới đây Smartlog xin giới thiệu một số thông tin tóm tắt của báo cáo.

Báo cáo tập trung vào lĩnh vực hàng tạp hóa, nhưng cũng dựa trên kinh nghiệm và thực tiễn tốt nhất của các nhà bán lẻ hàng đầu trong các lĩnh vực khác nhau trên khắp thế giới.

(more…)

Trong Supply Chain 4.0, quản lý chuỗi cung ứng áp dụng các sáng kiến về Industry 4.0 – Internet of Things, robot tiên tiến, phân tích, và dữ liệu khổng lồ (big data) để tạo ra bước nhảy vọt trong hiệu quả hoạt động và sự hài lòng của khách hàng.

Trong 30 năm qua, chuỗi cung ứng đã trải qua một sự biến đổi to lớn. Từ một chức năng logistics hoạt động thuần túy báo cáo về doanh số bán hàng hoặc sản xuất và tập trung vào việc đảm bảo nguồn cung cho dây chuyền sản xuất và giao hàng cho khách hàng nay đã trở thành một chức năng quản lý chuỗi cung ứng độc lập mà trong một số công ty hiện đang được điều hành bởi một CSO – Chief Supply-chain Officer. Trọng tâm của chức năng quản lý chuỗi cung ứng đã chuyển sang các quy trình lập kế hoạch nâng cao, như lập kế hoạch nhu cầu phân tích hoặc kế hoạch bán hàng và vận hành tích hợp (S &OP), mà đã trở thành quy trình kinh doanh lâu đời ở nhiều công ty, trong khi logistics về mặt vận hành thường được thuê ngoài cho nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba (third-party logistics providers – 3PL). Chức năng chuỗi cung ứng đảm bảo rằng các hoạt động được tích hợp tốt, từ các nhà cung cấp tới khách hàng, với các quyết định về chi phí, hàng tồn kho, và dịch vụ khách hàng được thực hiện bởi tầm nhìn xuyên suốt từ điểm đầu đến điểm cuối chứ không phải bởi mỗi chức năng một cách độc lập.

(more…)

Sau làn sóng sáp nhập và mua lại của năm ngoái, tốc độ triển khai công nghệ của 3PLs mới sẽ cần phải theo kịp với những thách thức đang diễn ra trong hoạt động xử lý đơn hàng đa kênh (omni-channel). Những nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba (third-party logistics – 3PL) nào đáp ứng được yêu cầu của khách hàng sẽ trở thành những người chiếm lĩnh thị trường.

Sự sáp nhập và mua lại điên cuồng của năm 2015 có thể đã giảm đi một chút trong vài tháng qua, tuy nhiên xu hướng các nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba lớn hơn (3PLs) hợp nhất với nhau có thể sẽ diễn ra trong một thời gian, theo như nhận định của các nhà phân tích hàng đầu trong ngành.

(more…)